12 CON GIÁP

MINH LUÂN
Theo Scienes et Avenir , 9.1994
CÁC TỪ
 


LIÊN QUAN ĐẾN “ CHUỘT ”
 

Pháo chuột : là loại pháo cấu tạo như pháo thăng thiên tầng 1 , gồm một ống trúc dài 17
cm , có đường kính 25 mm , mang thuốc phóng để có sự đẩy cao , trọng lượng của ống trung bình
khoảng 500 g , nhưng khác với pháo thăng thiên ở chổ pháo được đốt ngược ngòi và người ta
buộc ống trúc vào một dây cố định .Khi đốt , ngòi pháo cháy , thuốc xì qua đẩy pháo chạy trên
dây cố định nên trông như chuột chạy . Pháo dài khoảng 20-25 cm .
Hương cống ( hay ông cống ): Vào thời Lê , người đỗ kỳ thi hương được gọi là Hương
Cống ( như cử nhân thời Nguyễn ) nên người ta thường gọi là ông Cống . Chữ Cống lại đồng âm
với chữ cống trong chuột cống , loại chuột leo lên sàn nhà và chui vào cống , hang . Do vậy , dân
gian đã lấy con chuột tượng trưng cho người thi đỗ .
Trò “chim chuột ” hay “mèo chuột ”: để chỉ việc những người đàn ông hay đi tán tỉnh
những cô gái nhẹ dạ , hoặc đi vụng trộm với những người đàn bà không phải là vợ mình mà là
vợ của người khác .
“Cháy nhà ra mặt chuột” : Chỉ kẻ tiểu nhân đến lúc nguy hiểm mới lộ ra bộ mặt hèn hạ .
“Chuột sa chĩnh gạo ” chỉ kẻ tham lam lười nhác lại gặp được chỗ béo bở, ăn sẵn .
“ Đầu voi đuôi chuột ”: Chỉ loài người mới bắt đầu việc làm thì huyênh hoang , phô
trương nhưng kết cục thì lại kém cỏi , chẳng được tích sự gì .
“Chuột chạy cùng sào”: Chỉ kẻ bị rơi vào thế cùng, bế tắc.
 

CÂU ĐỐ DÂN GIAN
Vừa bằng quả mướp , ăn cướp cả làng
(Là con gì?)
Đáp : con chuột
Vừa bằng khúc cũi , nó lũi vô lùm
(Là con gì?)
Đáp : con chuột
Bốn anh cùng ở một nhà, cùng sinh một giáp cùng ra một hình .
Một anh thi đỗ cống sinh.
Một anh quỹ quái như tinh trong nhà.
Một anh tính nết xấu xa .
Một anh ăn vụng cả nhà đều ghen .
(Là bốn loại chuột gì?)
Đáp : chuột cống , chuột nhắt , chuột chù , chuột đồng .
 

MỘT SỐ DANH NHÂN
tuổi Tý
Danh nhân nước ta và thế giới và thế giới ở năm Tý khá nhiều , nhất là các
nhà văn , nhà thơ , nếu viết ra phải được cuốn sách dày . Chỉ xin kể 13 khuôn
mặt nổi tiếng sinh hạ vào năm TÝ
 

ĐỔ PHỦ tự Tử Mỹ , sinh năm Nhâm Tý (712 ) , tại huyện Củng , Hà Nam , mất năm
770 . Xuất thân trong một gia đình quan lại , bảy tuổi đã biết làm thơ . Ông nội là Đỗ Thẩm
Ngôn , nhà thơ có tiếng đời Sơ Đường . Đổ Phủ là bạn thân của Cao Thích và Lý Bạch , hoạn hộ
long đong , hai lần thi trượt , chỉ giữ chức quan nhỏ , sinh kế rất chật vật . Người đời tôn ông là
“Thánh thi ” thơ ông là “sử thi” . Ngôn ngữ trong thơ ông giản dị nhưng chứa đựng triết lý cao
siêu , giàu lòng nhân ái . Ông dồn hết tâm huyết , vào sáng tác , rất nghiêm ngặt khi đặt bút viết
với phương châm : “Ngữ bất kinh nhân tử bất hưu ” (Chữ không làm người sợ,chết chưa yên ).
Đúng 60 năm sau , năm Nhâm Tý (772 ), thời Trung Đường lại xuất hiện một hiện tượng
văn học kỳ lạ, đó là sự ra đời của đại thi hào BẠCH CƯ DỊ , tự Lạc Thiên : quê Hạ Khuê , nay
thuộc huyện Vị Nam , Thiểm Tây . Ông đổ tiến sĩ năm 30 tuổi , năm 807 giữ chức Hàn lâm học
sĩ ; 808 làm Tả thập dị . Cuộc sống xa hoa trên mồ hôi xương máu dân lành của bè lũ tham quan
được ông tái hiện trong các bản tấu trạng và hàng loạt bài thơ phúng dụ , làm chúng “chau mày ,
nghiến răng ,biến sắc .” nên năm 815 ông bị biếm về làm Tư Mã Giang Châu . Bài “Tỳ bà hành
” nổi tiếng của ông qua bản dịch tài hoa của Phan Huy Vịnh không mấy người không biết đến .
Ông qua đời năm 846 .
 

PHÙNG KHẮC HOAN , tự Hoằng Phụ , hiệu Nghị Trai , Mai Nham Tử , tục gọi Trang
Bùng , sinh năm Mậu Tý (1528 ) , người Kẻ Bùng , xã Phùng Xá , huyện Thạch Thất , Sơn Tây
(Hà Tây) . Ông là học trò Trang Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm , không chỉ nổi tiếng thơ văn mà còn
rất thông minh hiểu thuật số . Năm Đinh Tỵ (1557) đo ãđầu khoa thi hương , nhưng mãi đến năm
Canh Thìn (1580) , nhà Lê mở lại khoa thi Hội , ông mới đỗ Hoàng Giáp . Năm 1597 , sau khi đi
sứ Trung Quốc về , được phong Tả thị lang bộ lại , tước Mai Lĩnh Hầu , sang đời Lê Kính Tông
ông lại được phong Thượng Thư bộ Công , bộ Hộ , tước Mai Quận Công , ít lâu sau về trí sĩ .
Ông là tác giả “Văn bia về lê Đại Hành ”; “Văn bia về Lý Bát Đế ”; thơ chữ hán có “Ngôn chí
thi tập ”; “Huấn đồng thi tập ” ;“Đa thức tập ”; “Mai Lĩnh Sứ hoa thi tập ” v.v……Ông mất năm
1613.
 

Danh nhân Việt Nam sinh trùng năm Mậu Tý (1828) với Ibsen và Tônxtôi là NGUYỄN
CAO , người làng Cách Bi , huyện Quế Võ , Bắc Ninh . Ông đổ giải nguyên khoa Đinh Mão
(1867) , từng làm đến Bố chánh Thái Nguyên . Căm thù giặc Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ (1883) ,
ông từ quan , tổ chức khởi nghĩa chống pháp . Ngày 4 tháng 4 năm 1887 , ông bị giặc bắt và bị
chúng xử chém vào hồi 5 giờ chiều ngày 14 tháng 4 năm 1887 ở phía Bắc hồ Hoàn Kiếm .
TẢN ĐÀ Nguyễn Khắc Hiếu sinh ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý , tức mùng 8-5-1888 tại
làng Khê Thượng , Bất Bạt , Sơn Tây ( Hà Tây ) . Ông mất ngày 7-6 –1939 dương lịch .
“Ông là người viết đủ các lối văn : nghị luận , tiểu thuyết , du ký , du ký tưởng tượng ,
văn giảng đạo đức , văn nghi tưởng , văn biên tập , văn dịch thuật , giáo khoa , nhưng đối với dư
luận thì ông chỉ là một thi gia , tác giả tập “khối tình con” ( 2 quyển ) và tập “Tản Đà vận văn ”
( 3 quyển ) . Ông lại chú giải rất tường tận quyển “Vương Thuý Kiều ” , Tản Đà là một nhà thơ .


Thơ của ông giản dị trong sáng , lại diễn tả tâm hồn Việt Nam đủ mọi vẽ , mọi màu, nên thơ ông
sẽ là thơ bất hủ , và có lẽ trên thi đàn gần đây , ông đứng vào bậc nhất” ( Vũ Ngọc Phan ).
SHAKESPEARE (William ) kịch tác gia vĩ đại người Anh , sinh năm giáp Tý ( 1564 ) tại
Stratford –on – Avon , mất năm 1616 . Ông để lại cho nhân loại những kiệt tác sân khấu hầu như
không có đối thủ như “Roméo et Juliet” , “Hamlet” , “Othello” , “vualia” (Le Roi lear ) v.v…… (
hình minh họa nơi tựa bài )

Sự trùng hợp kỳ lạ : GALILÉE nhà vật lý , nhà thiên văn , nhà văn sĩ lừng danh cũng
sinh năm Giáp Tý ( 1564 ) tại Pise , Italia . Ông có những phát minh quan trọng về cơ khí , dùng
tóan học để chứng minh các định luật vật lý , tìm ra những định luật rơi của vật thể trong khoảng
không , sử dụng kính thiên văn qua quan sát vũ trụ . Ông cũng là người phát hiện ra bề mặt
nguyệt cầu , những vệ tinh của Sao Thổ ( Jupiter ) . Galliée bị toà án La Mã xử về tội dị giáo , đi
ngược quan điểm trong Thánh kinh , buộc ông tự phủ định những cống hiến về khoa học … và chỉ
được giáo đường minh oan , khôi phục danh dự vào năm 1992 .
 

HENRIK IBSEN , nhà văn , nhà viết kịch vĩ đại Na Uy , sinh năm Mậu Tý ( 1828 ) , tại
Skien ; mất tại Christiania năm 1906 . Những tác phẩm nổi tiếng là “ Nhà búp bê” (maison de
poupée ) , 1879 ; “Con vịt trời ”( Le canard sauvage), 1884 .
Đỉnh Thái Sơn văn học Nga LEPTÔNXTÔI cũng sinh đúng vào năm Mậu Tý 1828, tại
Iasnaia , mất năm 1910 tại Riazan . Kiệt tác gồm : “Chiến tranh và hòa bình” (1865 -1869);
“Anna Karênina”,(1875-1877); “Phục sinh ”(1899)…
 

ALPHOSE DAUDET , đại văn hào Pháp sinh năm canh Tý (1840) tại Nice , mất tại
Paris năm 1897 . Ông được đánh giá là nhà văn dùng ngôn ngữ chuẩn mực , giản dị và trong
sáng . Văn hào Nga Paoustovski (1892-1968) gọi ông là “ Nhà thơ bị đóng đinh trên cây thánh
giá văn xuôi ”. Oâng sáng tác nhiều nhưng rất có biệt tài ở thể truyện ngắn . Tập “Những bức thư
từ cối xoay gió ”( Lettres de mon moulin) viết năm 1866 của ông được cả loài người biết đến.
Người khổng lồ trong lĩnh vực âm nhạc , sinh cùng năm Canh Tý (1840) với Daudet là
nhạc sĩ thiên tài Nga TCHAIKOVSKI , ra đời tại Volkinsk , mất tại Saint – Pétersbourg năm
1893 . Những sáng tác bất hủ của ông là “Hồ thiên nga”( Le lac des Cignes), 1876 ; “Người đẹp
ngủ trong rừng ” ( La Belle au bois dormant) , 1890 v.v… Oâng còn soạn giao hưởng , công xéctô ,
nhạc kịch , độc tấu piano.
 

-Đại văn hào Mỹ JACK LONDON , sinh năm Bính Tý (1876) tại San Francisco , cha đẻ
của những tiểu thuyết du ký như : “Sói biển ” (Le loup des mers ) , năm 1904 ; “nanh trắng ”
(Croc-Blanc) , 1905 , cùng rất nhiều truyện vừa , truyện ngắn . Hầu hết sáng tác của ông đã
chuyển thể thành kịch bản điện ảnh , được các hãng phim nổi tiếng , những diễn viên tài ba ở
Hollywood tái hiện trung thực trên màn ảnh , JACK LONDON dùng súng tự sát năm 1916 tại
California .
 

-SAINT EXUPÉRY(Antoine de ) phi công , nhà văn lỗi lạc của Pháp , sinh năm Canh Tý
(29/6/1900) tại Lyon , mất tích trong một phi vụ ngày 31/7/1944 . Những tác phẩm gây tiếng
vang lớn : “chuyến bay đêm ” (Vol de nuit ) , 1931 ; “Đất của con người ” (Terre des hommes )
, 1939 : “phi công thời chiến” (Plilote de guerre ) ,1942 , “hoàng tử nhỏ ” (Le Peti Prince ) , 1943
. Ông từng được trao giải văn học Femina . Trong lễ truy điệu trọng thể , chính phủ Pháp tưởng
thưởng ông Huân chương chiến tranh 1939-1945 và nói : “Ngài Saint-Exupéry là người tiên
phong trong ngành hàng không Pháp , tận tâm phụng sự tổ quốc ; những tác phẩm văn học đầu
tiên của ông được xếp ngang những kiệt tác văn học hiện đại , tên ông được đặt bên những đại
văn hào Pháp và thế giới”.
Sẽ là bất kính đặt dấu chấm hết ở đây bởi nhân tài sinh năm Tý kể ra còn rất nhiều
 

MỘT SỐ NHÂN TÀI TUỔI NHÂM TÝ CỦA THẾ KỶ XX
LÊ HỒNG QUANG

Nguyễn Huy Tưởng : (sinh ngày 6 –5-1912 mất năm 25-7-1960) quê ở Dục Tú . Đông Anh- Hà Nội . Nhà văn trong kháng chiến chống Pháp, ông là một trong những người lập ra hội văn nghệ
Việt Nam . Ông cũng là người sáng lập đồng thời là giám đốc nhà xuất bản Kim Đồng . Nhà
xuất bản sách cho thiếu nhi đầu tiên của chế độ mới .
-Giáo sư Tôn Thất Tùng (sinh ngày 10-5-1912 mất 7-5-1982) . Quê ở thành phố Huế , tỉnh
Thừa Thiên –Huế . Ông là giáo sư y khoa nổi tiếng về gan và phẩu thuật gan . Năm 1939 ông đã
mổ thành công ca mổ đầu tiên theo phương pháp của ông , được báo cáo tỉ mỷ ở viện Hàn Lâm
phẫu thuật Pari (được thảo luận nhưng chưa được công nhận ) .Sau cách mạng tháng tám , trong
kháng chiến và sau này ông đã cống hiến rất nhiều trong lĩnh vực y học . Ông là anh hùng lao
động được tặng nhiều huy chương cao quý nhất của chính phủ . Năm 1977 ,ông được tặng huân
chương phẫu thuật quốc tế mang tên Lanelonggue . Ông được bầu làm viện sỉ của nhiều viện
hàn lâm trên thế giới .
 

-Phạm Hùng : (sinh ngày 11-6-1912 mất 10-3-1988) .Nhà hoạt động chính trị , đã từng
giữ chức chủ tịch hội đồng bộ trưởng nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa nước Việt Nam . Bộ trưởng
bộ nội vụ . Ông tên thật là Phạm Văn Thiệp . Quê ở Long Hồ , Châu Thành ,Vĩnh Long . Cán bộ
dưới quyền ông luôn nhớ và quý trọng ông về mọi mặt , nhất là tính tổ chức kỷ luật , ông nói mà
cho đến nay những người gần gũi ông đều thấm thía về lòng tin của ông đối với “dùng người ” .
Ông bảo “không tin thì đừng dùng , đã dùng phải trọn tin ” Ông rất nghiêm nhưng rất gần gũi
với mọi người .Tháng 6-1987 ông là chủ tịch hội đồng bộ trưởng . Ông mất đột ngột vào ngày
10-3-1988 do bệnh tim . Do công lao xuất sắc của ông , ông đã được tặng thưởng nhiều huy
chương Sao Vàng và huân chương cao quý khác trong nước cũng như các nước bạn Liên Xô (cũ )
Cuba , Tiệp Khắc …
 

-Nguyễ Văn Cử : (sinh ngày 9-7-1912 mất 18-8-1941) . Tổng bí thư Đảng Cộng Sản
Đông Dương (năm 1938 đến năm 1941) . Quê thôn Cẩm Giang , xã Đồng Nguyên , huyện Từ
Sơn – Bắc Ninh . Năm 1927 ông tham gia vào Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội . Tháng 6-
1929 ông được kết nạp vào chi bộ Đảng Cộng Sản đầu tiên đặc khu Hòn Gai , Uông Bí , ông bị
Pháp bắt đày đi Côn Đảo . Năm 1936 ông được trả tự do trở về Hà Nội tiếp tục họat động bí mật
 

Năm 1937 ông được cử vào Sài Gòn Gia Định . Năm 1938 ông được bầu làm tổng bí thư
Đảng Cộng Sản Đông Dương . Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ . Chúng kết án tử hình ông . Ngày
28-8-1941 ông bị thực dân xử bắn tại Bà Điểm , huyện Hóc Môn (nay thuộc Thành Phố Hồ Chí
Minh )
 

-Xuân Thuỷ (sinh ngày 2-9-1912 mất 18-6-1985) . Nhà hoạt động cách mạng , nhà thơ ,
tên thật là Nguyễn Trọng Nhân . Quê ở xã Xuân Phương , Từ Liêm (nay thuộc Hà Nội ) . Năm
1968 ông là bộ trưởng của chính phủ . Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam (tại Pari) đưa
đến ký kết hiệp định chấm dứt chiến tranh năm 1973.

 

-Nguyễn Đỗ Cung (sinh ngày 15-9-1912 mất 22-9-1977) .Họa sỹ xuất sắc trong thế hệ
họa sỹ tạo hình đầu tiên của nước ta . Quê :Thư Trai , huyện Phúc Thọ , Sơn Tây , Hà Tây , từ
trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương , ông ham mê sáng tạo , sớm nổi danh vào những năm
1935-1936 , ông nhiệt tình yêu nước tham gia cách mạng giữ chức vụ Uỷ viên thường vụ ban Mỹ
thuật Việt Nam . Uỷ viên ban chấp hành hội Liên Hiệp Văn Học nghệ thuật Việt Nam . Viện
trưởng viện Mỹ thuật, đại biểu quốc hội khoá đầu tiên của nước ta.
-Hàn Mặc Tử : (sinh ngày 22-9-1912 mất 11-11-1940). Nhà thơ nổi tiếng một thời . Tên
thật là Nguyễn Trọng Trí . Quê : Lệ Mỹ (Đồng Hới), Quãng Bình . Ông còn có bút danh là Lệ
Thanh là ghép chữ đầu của nơi sinh (Lệ Mỹ) và chữ đầu của chính quán (Thanh Tâm) . Ông còn
để lại cho đời mấy tập thơ xuất sắc . Như cái que (1936), thơ Hàn Mặc Tử (1957).
-Vũ Trọng Phụng (sinh ngày 20-10-1912) .Nhà văn, bút danh Thiên Hư tên tục là “Tý” .
Quê Mỹ Hào , Hải Hưng . Vũ Trọng Phụng là một tài năng lớn : 27 tuổi đã để lại cho đời hàng
loạt tác phẩm có giá trị , sự nghiệp văn chương Vũ Trọng Phụng tuy chưa được “kiểm kê” đầy
đủ đã thấy khá phong phú : 6 phóng sự, 9 tiểu thuyết và hơn 20 truyện ngắn và 5 vở kịch……trong
đó “Giông tố ”, “số đỏ”là những kiệt tác rồi đến “vỡ đê” . Cả 3 cuốn tiểu thuyết nói trên đều
được viết vào năm 1936 (năm Bính Tý trước cửa của thế kỷ này ) . Một nhà văn “yểu mệnh”
nhưng khi ông mất . Ngô Tất Tố trong bài viết của mình , lại cho mới thật là trường thọ . Từ
ngày Vũ Trọng Phụng nằm xuống hơn nửa thế kỷ đã trôi qua và người ta thấy Ngô Tất Tố nói
đúng .
 

NHỮNG NHÀ VĂN VIỆT NAM TUỔI TÝ CỦA THẾ KỶ XX
 

Trong danh sách hội viên nhà văn Việt Nam (đến hết năm 1995) có gồm 15 nhà văn tuổi
tý , khoảng 10% tổng số nhà văn hội viên . Đứng đầu danh sách các nhà văn tuổi tý là :
-Nhà thơ Tú Mỡ, canh tý(1900)
-Nhâm tý (1912) : Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Châu, Đỗ Phôn……….,
-Giáp tý (1924) : Nguyễn Đình Thi, Hồng Nguyên, Hà Xuân Trường , thợ Rèn , Đào
Hồng Cẩm, Đào Xuân Quý , Trang Thế Hy, Hải Như ,Mai Văn Tạo, minh hiệu ……..,
-Bính Tý (1936) : Rất Đông : Ma Văn Kháng, Võ Văn Trực , Triệu Bôn, Cao Tiến Lê,
Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Xuân Thâm , Trần Nhật Lam,Từ Sơn, Trúc Cương, Vi Hồng ,
Phượng Lựu, Phan Văn Các, Oâng Văn Tùng, Bùi Công Hùng,Xuân Trình……..,
-Mậu Tý (1948) Cũng Đông Không Kém : Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Bảo
, Đặng Aùi , Võ Quê , Lưu Quang Vũ , Hoàng Minh Tường, Y Phương , Trung Trung Đỉnh, Văn
Chính………,
-Canh Tý (1960) Uùt Ít Nhất Hội : Hồ Anh Thái, Dương Kiều Minh;
-Nhâm Tý (1972) Chưa Có Nhà Văn Nào.
THẠC THỬ
(Bài ca dao rất nổi tiếng được khổng tử đem vào Kinh thi liên hệ với tình hình chính trị –
xem lời giải thích của Chu Hy)
CHƯƠNG I
Thạc Thử (Nguỵ Phong 7)
1. Thạc thử ! Thạc thử !
2. Vô thực ngã thử .
3. Tam tuế quân nhữ .
4. Mạc ngã khổng cố .
5. Thệ tương tứ nữ ,
6. Thích bỉ lạc thổ.
7. Lạc thổ ! Lạc thổ !
8. Viên đắc ngã sở .
Dịch nghĩa :
1. Con chuột to ! con chuột to !
2. Chớ ăn nếp của ta.
3. Ba năm ta đã quen cái thói của mày rồi .
4. Mày chẳng hề chịu đoái tưởng đến ta .
5. Ta đi và sẽ bỏ mày,
6. Để đến một đất yên vui kia, một đất có đạo đức kia.
7. Một đất yên vui một đất có đạo đức .
8. Ơû đấy ta được nơi thích hợp .
Dịch thơ
Chuột to hỡi ! chuột to hỡi !
Nếp ta, đừng ăn tới nghe mầy .
Ba năm biết thói lâu nay,
Xót thương chẳng chịu đoái hoài đến ta.
Nên đành phải đi xa mầy đó,
Đến đất kia thật rõ yên vui.
Đất an lạc đất thảnh thơi.
Chốn kia thích hợp được nơi an nhàn.
Chú giải của Chu Hy:
Chương này thuộc thể tỷ. Thạc to lớn , Tam Tuế , ba năm, nói đã lâu rồi. Quán, quen , ồ
nhớ đến thế, Thệ, đi lạc thổ , đất vui, nước thái bình có đạo đức . Viên ở.
Dân chúng đã khốn đốn vì chính trị tham tàn, cho nên nói thác rằng vì con chuột to đã
làm hại mình mà bỏ đi chỗ khác.
 

CHƯƠNG II
9. Thạc thử ! Thạc thử !
10. Vô thực ngã mạch .
11. Tam tuế quán nhữ .
12. Mạc ngã khẳng đức .
13. Thệ tương khứ nữ ,
14. Thích bỉ lạc quốc.
15. Lạc quốc ! Lạc quốc !
16. Viên đắc ngã trực .
Dịch nghĩa :
9. Con chuột to ! con chuột to !
10. Chớ ăn lúa mạch của ta.
11. Ba năm ta đã quen cái thói của mày rồi .
12. Mày chẳng hề chịu trả ơn ta .
13. Ta đi và sẽ bỏ mày,
14. Để đến một đất yên vui kia, một đất có đạo đức kia.
15. Một đất yên vui một đất có đạo đức .
16. Ơû đấy ta sẽ được nơi thích nghi
Dịch thơ
Con chuột bự,này con chuột bự !
Lúa mạch ta mày chớ ăn nhầm.
Thôi mày ta hiếu ba năm.
Ơn ta thì chẳng để tâm báo đền.
Thế ta phải xa liền mày vậy
Nước yên vui ở đấy an thân.
Nước yên nước có đức nhân.
Để ta sẽ được mọi phần thích nghi.
Chú giải của Chu Hy :
Chương này thuộc tỷ . Mạch (đọc hực cho hợp vận), lúa mạch.Đức trả ơn . Trực thích nghi.
 

CHƯƠNG III
17. Thạc thử ! Thạc thử !
18. Vô thực ngã miêu .
19. Tam tuế quán nhữ .
20. Mạc ngã khẳng lao .
21. Thệ tương khứ nhữ ,
22. Thích bỉ lạc giao.
23. Lạc giao ! Lạc giao !
24. Thuỳ chi vĩnh hão ?
Dịch nghĩa :
17. Con chuột to ! con chuột to !
18. Chớ ăn mạ lúa của ta.
19. Ba năm ta đã quen cái thói của mày rồi .
20. Mày chẳng hề hề biết nổi khổ nhọc của ta,
21. Ta đi và sẽ bỏ mày,
22. Để đến một nơi an vui kia.
23. Một nơi an vui ! Một nơi an vui !
24. Lại phải vì ai mà gào than mãi ?
Dịch thơ
Chuột to hỡi ! Chuột to kia hỡi !
Mạ ta đừng ăn tới mảy may.
Ba năm ta biết nỗi đoạ đày của ta.
Nên đành phải lánh xa mày hẳn.
Đến một nơi phẳng lặng yên vui
Nơi an lạc , chốn thảnh thơi
Vì ta sẽ ngậm ngùi gào than?
Thiên Thạc Thử có 3 chương mỗi chương 8 câu
Thơ quốc phong nước Nguỵ có 7 thiên, 18 chương, 128 câu
 

 

TRUYỆN TINH CHUỘT
LBT:Nước ta có tập truyện nhân gian , đề là thánh tông dị thảo được xem là tác phẩm của
vua Lê Thánh Tông từ thế kỷ 15 , nhưng chưa xác minh được , mặc dù có một số truyện trong đó
tác giả tự xưng là “ta”, với tư cách là Vua . Thí dụ câu truyện Tinh chuột dưới đây (trích theo cuốn
sách Kho tàng truyện truyền kỳ Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh (1995)) .
Có anh con trai một nhà giàu nọ được cha mẹ cưới vợ cho vào năm hai mươi tuổi . Vợ có
nhan sắc anh rất yêu. Mới được nửa năm người cha anh ta bảo rằng :
-Người xưa nói : “trẻ chẳng học, già chẳng làm gì? ” mày đang tuổi xanh sức khoẻ , chính
là thời kỳ tu tiến . Nếu nặng tình chăn gối uổng phí thời giờ, về sau hối hận cũng chẳng kịp nữa,
con nên đi học xa, một vài tháng về một lần cũng được .
Nghe lời cha dạy, anh hăng hái lên đường từ biệt gia đình, cùng với một đầy tớ đi
phương xa tìm thầy theo học. Khi đi, vợ tiễn chân nói riêng với anh rằng :
-Vợ chồng là duyên trăm năm, không phải là duyên sớm tối . Chàng đi học xa may ra đỗ
đạt trên thì cha mẹ vẻ vang, dưới thì vợ con sung sướng, sau này hưởng thụ còn nhiều . Mong
chàng hãy tạm gác tình yêu thương thiếp ra sức học hành, còn việc phụng thờ cha mẹ, miếng
ngon, miếng ngọt, sớm hỏi tối chào, thiếp xin đảm đương, mong chàng chớ ngại .
Anh gật đầu từ biệt .
 

Từ đó, vợ ở nhà phụng thờ bố mẹ chồng, nết ngoan ngoãn, không có điều gì chê trách .
Thấm thoát đã được nửa năm. Bổng một đêm đã khuya. Vợ ngạc nhiên hỏi :
-Ô! Lang quân sao lại về đêm như thế ? Từ xa trở về, chưa vào chào thầy mẹ, đã vội đến
khuê phòng. Sáng mai thầy mẹ biết chuyện, chả hoá ra chàng là người coi tình yêu hơn đạo hiếu ,
không phải kẻ học thức, mà thiếp cũng mang tiếng là người chỉ biết ham vui.
Chồng nói :
 

-Ta nhớ hiền nương lắm, thường thường muốn về, nhưng chỉ sợ thầy mẹ không bằng lòng,
cho nên phải đợi đêm khuya lẻn về, rồi gà gáy lại đi. Hiền nương nên dấu hộ ta .
Vợ nín lặng . Rồi hai người cùng vào trong màn, ái ân đằm thắm. Đến gà gáy, quả nhiên
chàng dậy từ biệt .
Cách một đêm, đêm sau lại về . Vợ ngờ hỏi rằng:
-Nghe nói nhà chàng trọ cách nhà ta hơn hai ngày đường, sao đi lại được luôn như thế ?
Chồng nói :
-Ta vì hiền nương, đã dời chỗ trọ về gần, cách độ mươi dặm thôi. Vì muốn đi lại cho tiện
nên phải giấu giếm không dám lộ chuyện cho cha mẹ biết .
Vợ cũng yêu chồng, nên tin lời không hỏi lại nữa .
Cứ như thế hơn nữa năm, người ngoài không ai biết chuyện. Nhưng người vợ nhan sắc
ngày càng sút kém, tựa hồ người ốm.
Bố mẹ chồng ngờ là dâu vì nhớ chồng mà đến nỗi như thế, bàn riêng với nhau rằng :
-Đôi vợ chồng trẻ mà phải xa nhau như thế kể cũng đáng thương . Từ khi con trai ta đi học
đến nay, tính đốt ngón tay đã một năm tròn . Con dâu ở nhà công việc siêng năng, nhưng mặt
buồn rười rượi . Ta nên viết thư cho con trai tạm về trong vòng một tháng . Một là yên lòng cha
mẹ tựa cửa mong chờ, hai là thoả lòng con dâu gối chăn trông đợi.
Thế rồi người cha viết thư cho con . Con tiếp được thư xin phép thầy học ra về . Đến trưa
hôm sau tới nhà, chàng vào ngay nhà trong đến tận giường hỏi thăm sức khoẻ cha mẹ.
Cha thong thả hỏi đến việc học hành . Anh đối đáp trôi chảy .

Cha rất vui lòng . Một lát
gọi con dâu ra, trỏ vào anh, cười mà nói rằng :
-Con xem thầy tớ nó áo quần rách nát, tóc da gàu ghét. Thật là cảnh khổ của học trò kiết
xa nhà . Sao con không lấy áo mới cho chồng thay, nấu nước cho chồng tắm?
Con dâu vâng lời :
Đến chiều, lại dọn cơm rượu cùng vui trong gia đình . Đêm đã khuya, anh xin phép về
phòng nghỉ . Cùng ngôì với vợ anh hỏi rằng :
-Thầy mẹ nàng vẫn được mạnh khoẻ cả chứ ?
Vợ nín lặng .
Anh lại đùa rằng :
-Tục ngữ có câu : “Vợ chồng mới cưới không bằng vắng lâu”, là ý thế nào nhỉ ?
Vợ không trả lời :
Chồng lại nói :
-Kinh thi có câu : “Đêm nay là đêm nào ?” Thấy người lương nhân, phải nghĩ thế nào với
người lương nhân ? Đêm nay là đêm nào ? “Thấy người đẹp, phải nghĩ thế nào với người đẹp
ấy?” Nàng với ta có đồng tình với cổ nhân không?
Vợ cũng nín lặng :
Chồng lại thong thả hồi lâu, vỗ lưng vợ bảo rằng :
-Từ khi xa nhà đến nay , song gà(1) luyện tập trí thức ngày một mở mang; án tuyết (2)
gắng công, đức hạnh ngày một tu tiến . Mới biết “cha mẹ thương con lo lắng cho con về lâu dài ”,
lời cổ nhân không dối ta bao giờ . Ta tuy cách xa dưới gối, việc phụng dưỡng cha mẹ đã có người
lo . Song chạnh nghĩ về khuê phòng, niềm ái ân vẫn thường mơ tưởng . Ta có làm một bài ca như
thế này :
(1) Song gà : cánh cửa sổ ngồi học, nghe được tiếng gà gáy sáng.
(2) Aùn tuyết : bàn học thầy giáo giảng cho học sinh (do một tích xưa học trò đứng chờ
thầy dưới tuyết)
Nhớ ai như cắt như mài,
Sầu mà không đứt mà chùi không phai.
Cắt mài lòng những nhớ ai,
Cao, cao hơn núi dài, dài hơn mây.
Hỏi nàng,nàng phỏng có hay,
Lòng vương chốn củ, hồn bay quê người .
Để ta dạ những bồi hồi,
Nằm thời biếng ngủ, ăn thời chẳng ngon.
Đêm đông ngày dạ bồn chồn,
Người xa một khắc, tình dồn ba thu.
Biệt ly trời khéo vẽ trò,
Vắng tanh thư nhạn, tịt mù tin ngư.
Trải qua mới một năm dư,
Phòng không đêm vắng dạ như thế này.
Tình si một mối xưa nay.
Vợ vẫn không trả lời.
Chồng giận dỗi nói:
-Người đàn bà trong thơ Tiểu Nhung thức ngủ không yên . Người đàn bà trong thơ Đông
Sơn một mình than thở . Xa nhau thì nhớ, ai cũng như thế .

Cớ sao ta rất nhớ nàng mà nàng tuyệt
nhiên không nhớ ta ? Ba lần hỏi mà ba lần không đáp là cớ gì ? Sao không xem chim cưu cải cầu
tạnh để được gần chồng ? Loài chim còn như thế , huống chi là con người . Hay là đã cành chim
lá gió , đưa người ra cửa trước rước người cửa sau có phải không ?
Câu ấy đúng tính nết của nàng đó .
Vợ tròn mắt nhìn chồng nói rằng :
-Sao chàng nói càn như thế ? Chàng đi học xa chưa tới nửa năm, đã giấu giếm cha mẹ rồi
dời trọ đến ấp gần . Đêm khuya trèo tường về gà gáy mở cửa đi . Tính đến nay đã được nửa năm,
đi lại với nhau hàng trăm lần . Lại còn nhớ nhung gì nữa ? Thương chàng yêu chàng, cho nên vẫn
giữ lời dặn , không dám tiết lộ . Bây giờ lại thêu dệt nên điều phi nghĩa , buộc cho tiếng nhơ
nhuốc . Thân này đã chiếm nhục còn mặt mũi nào nhìn bố mẹ chồng và bố mẹ đẻ nữa ?
Chồng lại càng giận, mắng rằng :
-Suốt hơn năm trời, đã về nhìn mặt lần nào, có lão bộc cũng biết. Đến như việc dời nhà
trò, trèo tường về ta có bao giờ làm thế ? Chắc đứa gian phu nào giả dạng ta , đêm hôm tối tăm ,
không phân biệt thật giả , dục tình động lên vội lấy nó . Mày sao dám nói càng với ta ?
Vợ khóc lên nói :
 

-Vết đỏ ở cổ, mụn hạt cơm ở trong tai, không phải chàng thì ai ? Tiếng nói như tiếng
Khánh, hai môi đỏ như son, không phải chàng thì ai ? Dưới vận quần trắng , ngoài vận áo the,
quần áo choàng đều do thiếp cắt may, lẽ nào lại nhầm ?Quạt lụa phe phẩy khăn hồng vắt vai ,
những thứ chàng cần dùng đều là của thiếp đưa tặng, lẽ nào còn sai ? Huống hồ lời nói bên gối,
mới cách đây có một đêm , thiếp còn nhớ cả , sao là bảo thiếp là nhận càn ?
Nói xong khóc ầm cả lên .
Bố mẹ chồng nghe tiếng vội vàng chạy đến, hỏi vì duyên cớ gì ,người vợ bị chồng sỉ
nhục nên tức giận, liền khóc và lạy phục xuống đất, thuật hết mọi chuyện không nghĩ đến xấu
hổ nữa .
Xong lại nói tiếp :
 

-Lời chồng con nói, nếu thực như thế, như thế thì không những con mang tiếng phụ chồng
mà còn làm nhục đến thanh danh nữa . Thân con còn sống làm gì, từ nay trở đi không dám đến
hầu thầy mẹ nữa .
Nàng dâu định dập đầu vào cột đình tự tử . Chồng và bố mẹ cứu lấy , lấy lời ngọt ngào
khuyên giải , một lát sau nàng mới tỉnh lại.
Bố mẹ chồng bảo rằng :
 

-Từ ngày con đi học xa, vợ con ở nhà rất hiền lành đứng đắn, không có ngoại tình đâu .
Nếu bị kẻ gian đánh lừa thì nửa năm nay há không ai biết sao ? Hay là ma quỷ yêu tinh ham mê
nhan sắc mà nhũng nhiễu chăng ? Con cứ đi học , ta sẽ tìm phù chú trấn an cho nó .
Con vâng lời . Qua một tháng lại đem người lão bộc đến nhà trọ cũ.
Bây giờ mẹ chồng dặn kín con dâu rằng :
-Đêm nào nó đến, con nên giữ chặt lấy, kêu to lên để ta đến xem .
Đến đêm hôm thứ ba , ông bố ở nhà trong nghe tiếng kêu . Lập tức mọi người đến bắt
trói gian phu vào cột. Sáng mai bố mẹ đến nhìn kỹ thì đúng con trai mình . Vợ mình cũng bảo
đúng là chồng mình .

Họ hàng gần xa đến xem , ai cũng bảo là làng người làng họ . Trong bọn
ấy có người thức giả nói :
-Nên sai người đến chỗ trọ hỏi anh ta có về hay không thì mới biết đích là giả hay thật .
Người cha theo lời . Hôm sau người con tiếp được tin, lập tức cùng lão bộc tất cả về nhà .
Cha mẹ làng mạc và người vợ đều nhìn, rõ ràng một người mà thành hai, hai người mà như một .
Bèn bắt cả hai người đem thưa quan huyện . Quan huyện không biết xử thế nào giải lên tỉnh .
Quan tỉnh cũng không xử được , nên đem việc ấy về tâu triều đình .
Ta thấy thế, thân ra xét hỏi . Hai người đều đứng trong sân rồng. Ta sai thị vệ cởi áo xem
, ngoài mặt đã giống nhau , mà trong mình, những chỗ kín,nốt ruồi đen đỏ lại càng giống nhau
như hệt .
 

Có người tâu rằng :
-Ban ngày thì ta đưa ra nắng , ban đêm thì soi trước đèn , có bóng là người, không có bóng
là ma . Ta đem thí nghiệm cũng không ăn thua gì .
Cả triều chịu bó tay, không nghĩ được phép gì để xét xử việc này.
Ta bực mình tự nghĩ rằng : “Mình là người đứng đầu thần dân, nếu không xét cho ra cái
án ma này , thì bố mẹ người thêm một đứa con ma, vợ thêm một người chồng ma. Đã gọi là ma sau
này không khỏi sinh ra tai vạ khác”
Thế rồi ta thắp hương cầu khấn , nhờ Đổng Thiên Vương giúp sức .

Hơi hương bốc lên,
Thiên Vương nhập vào con đồng bảo ta rằng :
-Ma này là giống tinh chuột đấy . Chuột già lâu năm ăn nhiều tinh khí của các vật , thành
giống ma quỷ quái này . Lửa không hại được , phù trú không trừ được . Thứ ma này thay hình đổi
dạng trăm vẻ, biến hoá giỏi nhất xưa nay , đời nhà Tống, nó biến vua Nhân Tông giả,Long Đồ
Lão Tử tra án này cũng không có thuật gì trừ khử được , phải tâu Ngọc Hoàng thượng đế xin
mượn con mèo mặt ngọc , nó mới không thể độn hình, bản tướng lộ ra , mèo kia cắn chết . Nay ở
Thiên đình kho sách rất nhiều , khó mượn được con mèo ấy . Dẫu ma muốn chạy thoát cũng không
được nữa .
 

Đến hôm sau ta bắt hai người đứng ra trước sân rồng quay mặt vào nhau . Bỗng nhiên
mây mù đen nghịt, trong sân có một luồng khí sáng như chớp . Một lát mây ta thì thấy một con
chuột ngũ sắc, râu trắng như tuyết , bốn chân huyền đề, nặng chừng ba mươi cân, bảy khiếu
chảy máu đen , chết gục ở sân. Còn người đứng bên kia thì vẫn tỉnh táo như cũ . Hai bên thị vệ
trông thấy, ai cũng kinh khủng .
Ta ngửng mặt lên trời ta ân xong, truyền đốt con chuột ấy , đem tro ném xuống sông .
Vợ người nhà giàu kia uống thuốc hơn một năm, mới giả được cái độc tinh chuột .
 

NHỮNG CÂU CHUYỆN CỔ TÍCH VỀ CHUỘT

TRUYỆN TRINH THỬ
Trong kho tàng truyện nôm Việt Nam có truyện Trinh Thử (con chuột trinh tiết ) . Trước
đây người ta cho rằng Trinh Thử là do Hồ Huyện Qui đời Trần soạn . Hiện nay có thể bước đầu
xác định truyện nôm Trinh Thử thoát thai từ một tác phẩm văn xuôi chữ Hán đề Đông thánh
Trinh Thử truyện (Truyện con chuột trinh tiết ở trường thành phía Đông ) ra đời vào nửa sau thế
kỷ XIX . Tác giả truyện nôm Trinh Thử là một nho sĩ học giỏi cùng sống vào thời đó . Có thuyết
cho rằng Trinh Thử do Nguyễn Hàm Nghi em ruột Nguyễn Hàm Ninh ở Quảng Bình viết vào hồi
thực dân Pháp mới xâm lược nước ta và ý ám chỉ thời thế .
Nội dung Truyện Trinh thử tóm tắt như sau :
 

*Vào đời nhà Trần, có Hồ sinh là người học rộng biết nhiều, có tài nghe được cả tiếng
chim muông. Nhân dịp ra chơi kinh thành , chàng ngụ ở gần nhà thừa tướng Hồ Quý Ly , đêm
nằm bổng nghe tiếng chó sủa . Chó sủa làm cho một con chuột bạch goá chồng đang đi kiếm ăn
bên nhà Hồ Quý Ly kinh hãi chạy vào ẩn nấp ở hang chuột Đực. Chuột Đực gạ gẫm đem cả mùi
giầu sang của nhà Hồ Quý Ly ra để nhử nhưng chuột bạch dùng lý lẽ kiên quyết cự lại, đồng
thời ca tụng cuộc sống nghèo nàn và vạch mặt Hồ Quý Ly là mọt nước sâu dân . Khi chuột bạch
ra về thì vừa ra đến cửa gặp chuột cái vợ của chuột Đực cũng vừa đến hang . chuột cái nổi máu
ghen chửi rủa , xỉ mắng chuột bạch . Mèo ở đâu chợt đến . Chuột bạch chạy thoát còn chuột cái
bị sa xuống ao . May có Hồ Sinh núp ở gần đấy nghe hết câu chuyện bèn đuổi mèo đi và vớt
chuột cái lên, rồi minh oan cho chuột bạch , răn chuột cái cần biết cách khuyên chồng .
 

CHUỘT BẠCH VÀ VỢ CHỒNG CHUỘT CHÙ
 

Trong tập truyện cổ nước Nam (xuất bản lần đầu năm 1932-1934) ,
Oân như Nguyễn Văn Ngọc đã kể lại truyện Trinh thử
dưới dạng truyện cổ tích .
Xưa có con chuột đàn lấy một con chuột bạch về làm vợ . Hai vợ chồng yêu thương nhau
thật là có một , ăn ở với nhau như bát nước đầy , no cùng ăn , đói cùng kiếm, không hề nói nặng
với nhau một lời nào bao giờ .
Chẳng may, khi chuột bạch mới sinh được một bận con, thì chuột đàn yểu số vội châu
Tiên , chầu Phật
Chuột bạch thảm thiết vô cùng, lúc thở vắn , than dài, khi khóc ngấm khóc ngầm, phần
thương chồng xấu số thiệt phận , nỗi nghĩ mình con gái hoá con côi, nhà thì nghèo đói biết cậy
vào ai cho được .
Từ đó ngày đêm chuột bạch phải gia công mò mẫm đi kiếm ăn cho con thơ ở nhà mong
đợi .

Có một đêm chuột bạch đi lạc vào tổ một con chuột chù , thấy chuột chù sai khiến lũ
chuột nhắc, con này vào nhà nọ ăn trộm ngô, con kia vào nhà lấy trộm gạo .
Khi đám chuột nhắc đi khỏi , chuột chù ra giữ chuột bạch và bảo rằng :
-Hôm nay cả nhà đi vắng , chỉ có một mình tôi ở lại coi nhà, thấy nhện sa trước mặt ,
nhện tin trước thềm mà tôi thấy cô mình đến đây, không rõ việc dữ hay lành . Hay duyên cớ làm
sao, cô hãy nói tôi nghe thử .

Chuột bạch nghe hỏi, thỏ thẻ thưa rằng :
-Lang quân tôi chẳng may sớm cách . Tôi ở lại thờ chồng trực tiết chửa chọn ba đông.
Nhà nghèo, con thì dại . Một mình vò võ kiếm sớm thì lo buổi trưa , kiếm buổi trưa thì sợ buổi
tối . Khó nhọc trăm bề, chỉ mong sao thờ chồng cho trọn đạo, nuôi con cho trưởng thành , để sau
mà có chỗ nương nhờ yên phận . Người đã đến hỏi tôi xin cứ thực mà thưa .

Chuột chù nghe nói êm ả ngọt ngào, vui thú trong bụng , giở điều ve vãn , dỗ dành chuột
bạch rằng :
-Thế gian, thèm ăn thì nói, tối đến thì nằm. Tội chi mà chịu không chồng cho nó khổ thân
. Ta đây, cửa nhà giầu có, hiềm vì chút hiếm hoi . Bây giờ toan rắp tìm một nàng tiểu đinh ,
nhưng chưa được con nào xứng đáng .

Đêm nay mẹ nó đi khỏi nhà mà cô mình lại đến chơi, thật
là may mắn đủ đường . Dễ chăng cũng có lúc túc trái, tiền duyên ông Tơ bà Nguyêt xe dây cho
cô mình gặp tôi, tôi mới gặp được cô mình…….Bụng cô mình nghĩ sao xin cho tôi được biết .
Chuột bạch thấy chuột chù ra dáng lả lơi , làm bộ mặt nghiêm trang, nói lại rằng :

-Thiếp có nghe gái liệt nữ chẳng thờ hai chồng . Thiếp lại nghiệm xưa nay những kẻ mồ
chồng chưa ráo, đã đi lấy chồng khác , rồi sau cũng chẳng ra gì không được toàn vẹn . Như thiếp
tôi đây, chồng mất chưa đủ ba năm, mà đã nghe thấy người nói đến câu chuyện lấy chồng , thật
thiếp tôi lấy làm hổ thẹn lắm .

Xin người đừng nói đến nữa , để tôi chóng về với con, tôi xin
được đội ơn lòng người lắm .
Chuột chù thấy chuột bạch lòng son dạ sắt, cũng phải kính nể, nhưng chàng trông thấy
chuột bạch trắng nõn, xinh giòn càng xun xoe muốn giữ lại không nỡ để cho đi . Chuột chù lại
lên giọng tán rằng :
-Cô mình hỡi! Cô mình hỡi !Cô mình hãy nghĩ lại mà coi .Ta đây thật thà thì toà ngang ,
dẫy dọc, ruộng thì thẳng cánh cò bay, tiền lúa vức đi chẳng hết , vật gì muốn cũng đủ không
thiếu thứ gì…….Nhà ta lại được một ngôi mộ tổ trời cho mới đắp, phát cả đinh tài, văn học chính
ta đây lại được số tử vi cũng tốt , số tiền định cũng hay. Nếu cô mình lấy ta may được một chút
con thì thân cô mình cũng được cậy, con cô mình cũng được nhờ , thật cô mình sẽ được an nhàn
sung sướng một đời……Ngày xuân còn lắm, xuân xanh còn dài, tội chi cô mình vò võ như vậy cho
nó khốn cái thân . ……..lại còn biết đâu “ba năm dại một giờ” rồi mang tiếng kẻ chê người cười.
Tưởng chồng cô tính làm sao cho tiện…….
Chuột bạch đinh ninh thưa rằng :
-Người ta thấy có, ai cũng tham, thấy giàu ai cũng muốn. Bồ thóc đồng tiền ai chẳng
thích ngồi trên ăn chơi sung sướng ai không ưa tìm đến . Rứa mà thiếp nghĩ đạo vợ chồng là ở
đầu phong hoá, gái đã lấy chồng , chồng mất phải ở lại thờ chồng nuôi con cho trọn đạo làm thê
, từ mẫu . Số thiếp vì bằng có khá , thì trời đã cho khá rồi bây giờ trời đã bắt hư thì thiếp đành
lòng chịu vậy còn đâu tham muốn, còn đâu dám mong gì nữa vả chăng chồng thiếp xưa đã nói
với thiếp : sống mà lấy nhau , thì dù có chết cũng không bỏ nhau , chồng thiếp với thiếp thề thốt
nặng lời , đã có đôi vầng nhật nguyệt chứng minh soi xét . Ví mà bây giờ người cứ khăng khăng
giữ thiếp, ép nguyệt nài hoa, không buông cho thiếp về thì có sẵn dao (1) thiếp quyết liều mình
cho tròn một tiết . Thiếp cũng không sợ gì ai nữa . Người ta đã nói : “sống đục sao cho bằng thác
trong”……….
(1) Đâu mà sẵn thế ?
Chuột chù thấy chuột bạch quả quyết như vậy , sợ khi xảy ra chuyện lôi thôi rầy rà đến cả nhà,
cả họ mới phải buông tha chuột bạch , không dám ngăn giữ nữa . Nhưng chuột bạch bước ra khỏi
cửa thì vô phúc gặp ngay vợ chuột chù vừa về đến ngõ . Nó sinh nghi tình, lôi kéo chuột bạch
lại, rồi nó nổi tam bành lên nó mắng rằng :
-À con này ! mày lừa buổi nay bà đi khỏi nhà , mày đến mày chim chuột (1) chồng bà,
mày quyến rũ chồng, bà có phải không ?
(1) Tiếng chim chuột có lẽ bắt đầu từ đấy
Mắng rồi nó chửi át đi không cho chuột bạch cãi một lời .
Xong nó lại chẳng nể gì chồng nó, nó quay lại chửi cả chồng , nó rít lên nó mắng rằng :
-Đã sướng chưa!đã sướng chưa ! Ăn no rồi bửng hồng mau . Dục hà, dục hĩ, muốn sao ,
muốn vậy!Còn sợ gì ai nữa còn lo gì việc cửa việc nhà nữa . Đói đã có kẻ lo cho, no cũng có kẻ
lo cho . Còn đâu biết đến những nhọc của gái sề này . Hôm nay lừa cho con gái này đi khỏi ngõ ,
chưa chi đã vội rước đĩ về nhà mà hú hú với con đĩ ……Ừ ừ mày cho tao bây giờ già, mày chê tao
xấu , mày thấy cái răng tao muốn long, mày coi cái tóc tao hơi muốn bạc , mày nghỉ tao không
được non măng mơn mởn như lúc mới lấy mày…………..Mày định phụ tình tao . Rồi mày cố kiếm
lấy đứa nào cho xinh cho giòn cho đẹp cho đẽ , hàm răng trắng như bông sen mới nở, lông mày
thanh như lá liễu mùa xuân …….Ừ ừ mày trông thấy nó đỏ như son trắng như bông đẹp như con
trời , nhũn như chi chi thế kia làm gì mà mày không muốn , trách gì mà mày không thèm tài nào
mà mày không mắc phải bả của nó …….Ừ ừ mày rước nó về , để nó đỡ việc cho . Nhưng lo cái gì
! Lo con heo nhăn mặt, lo con bò trắng răng ấy à! Hay lại lo ăn no ngũ kỹ , lo chổng tỹ lên trời .
Thế mà lo ! Thế mà lo ! lo thế là lo o-o mà ăn cáy còn hơn rằng lo ngay ngáy mà ăn bò ………
Chuột chù vợ càng nói càng như không phải hả giận , vừa nói vừa chửi, vừa gào thét vừa
ầm ĩ vang trời , làm chuột bạch chết khiếp, cứ đành ngồi chép miệng thở dài , không nói đi nói
lại nửa lời .
Thấy vợ làm quá, chuột chù chồng xấu hổ với chuột bạch, phải phát khùng lên , mắng lại
vợ rằng :
-Này giá già nín đi, nín đi ! Đừng có lôi thôi nữa ! Nói gì mà nói nhiều nói không thế !
Mày nói thế nói tham nói dại thế , nói càn , nói dở thế !Mày nói thế mày không sợ ai chê ai cười
hay sao ? Tao bảo thật , tao không sợ mày đâu !……
Chuột vợ nghe nói lại nổi giận đùng đùng .
Nói xong, nói lại chửi nồng chửi nàn, chửi thảm chửi hại chửi liên chi hồ điệp, chửi hết
chuột chù, lại chửi chuột bạch , chửi cả tông chi năm bảy đời , cả nhà , cả họ , cả giống loài
chuột .
Tiếng kêu gào chửi rủa inh cả góc trời .
Có con chuột cống cũng thuộc dòng với chuột chù và nhà ở gần đấy nghe tiếng tru tréo
chửi rủa đã lâu , mới chạy sang nhà chuột chù hỏi rằng :
-Có việc gì mà bác ch

Up
Down

Copyright © 2007 TreToday.net