CON GIÁP NGÔN NGỮ CỦA CHUỘT Khi con chuột nhà gặp một chú chuột khác , nó thường tức giận và xua đuổi đi xa hoặc tìm cách tiêu diệt con chuột đó . Nhưng nếu đó là một con chuột bị nhốt trong lồng trong một thời gian dài thì lần sau gặp lại chúng sẽ biểu lộ với nhau những tình cảm hoàn toàn thân ái , các nhà khoa học cho rằng chúng đã tiết lộ ra những chất giúp chúng nhận ra nhau và phân biệt được bạn hay thù . Trường hợp con chuột đực phải đi kiếm ăn hoặc đi đâu đó vắng nhà mà có một con chuột đực lạ đến tán tỉnh “chuột vợ ” thì lúc trở về chuột “chồng ” sẽ thẳng tay trừng trị vợ . Cơn thịnh nộ của chuột “chồng ” kéo dài suốt mấy giờ liền , cho đến khi mùi vị của con chuột lạ bị gió xua tan hết mới thôi . Những quan sát của các nhà động vật Mỹ cho biết là hầu như không có mối quan hệ giao phối giữa những con chuột đực với những con chuột cái thuộc thế hệ con cái của chúng , mặc dù chúng được nuôi ở những chuồng khác nhau và cho trộn lẫn vào những đàn chuột đông đúc . Trong những đàn chuột bị nhốt chung , các nhà khoa học cũng nhận thấy là hành vi của từng cá thể đối với những con có quan hệ ruột thịt được thể hiện thân thiện hơn , mềm mỏng hơn so mối quan hệ đối với những con xa lạ Trong quá trình thí nghiệm , người ta thả vào hang chuột mẹ đang nuôi con , những con chuột khác cùng ngày sinh nhưng không phải là con của nó : Những con chuột này được tiếp nhận và chăm nuôi bình thường . Nhưng nếu thả những con chuột lớn tuổi hơn thì chúng bị xua đuổi . Trong điều kiện tự vệ , các con chuột cùng một lứa đẻ và một mẹ , nhưng có thể có bố khác nhau . Chuột con lớn lên cùng với nhau nhưng khi đầy năm thì những con chuột cùng chung bố cư xử với nhau hoàn toàn thân ái , khác hơn so với những con chung mẹ nhưng khác bố . Hiện nay các nhà khoa học chưa giải thích được vì sao động vật có thể phân biệt được mức độ ruột thịt . ĐỘI QUÂN DIỆT CHUỘT Mèo , rắn , chồn , và các loài chim như diều hâu , cú , chim lợn là những thiên dịch của chuột . Bắt nhiều chuột nhất phải kể đến rắn . Ngoài những loài rắn độc như hỗ mang , hỗ lửa , còn có những loài rắn không độc thường bắt chuột như : Ptyaliorros ,Zaocys sp , Python reticulatus , Python castus , Parad scurus , Hema phroditus . Loài rắn chuyên ăn chuột như hỗ chuột là hỗ chuột (Elaphe radiator ) . NHỚ CÔNG DIỆT CHUỘT Nhớ công mèo diệt chuột phá hoại lương thực , mùa màng , người Ai Cập thời cổ đã quý mèo đến kỳ quặc . Khi mèo già chết , người chủ trong nhà phải cạo sạch lông mày làm dấu để tang …mèo . Người ta phát hiện tại Ai Cập có đến 30 vạn xác mèo ướp được chôn cất cẩn thận . MÈO … ĐIỆN Mèo tài bắt chuột không những nhờ cách rình khéo , vỗ nhanh mà cả tiếng kêu của nó cũng có tần số âm thanh làm chuột co rúm cả người . Biết được điều đó , gần đây các nhà khoa học Nhật Bản vừa nghiên cứu thành công một loại máy diệt chuột được đặt tên là “Mèo điện ” . Mèo điện có tần số 200 mê – ga – héc , được đặt ở vùng có kho lương thực . Khi cho máy phát sóng , trong vùng diện tích 400 m2 , chuột bị kích thích mạnh , cắn xé lẫn nhau mà chết . BÁO ĐỘNG : DIỆT CHUỘT Cách đây mấy năm , ở Vê – nê – xu –ê – la người ta chỉ báo động vì …giặc chuột . Chuột sinh sôi nảy nở quá nhiều , dân số nước này chưa tới 16 triệu người nhưng ứơc tính có hơn 18 triệu con chuột . Chúng kéo hàng đàn phá hoại các kho , ăn trụi từng cánh đồng lúa mì . Bệnh dịch hạch phát triển ghê gớm . Chính phủ phải huy động cả quân đội để đi diệt chuột . Riêng thủ đô Caracat phải huy động gần 1000 lính trang bị dụng cụ phòng độc sục sạo vào hang cùng ngỏ hẻm để tiêu diệt được đạo quân gặm nhắm . CUỘC CHIẾN ĐẤU ĐANG TIẾP DIỄN Trong một thời gian dài , các loại bả chuột có tác dụng cản trở sự đông máu , gây chết chậm được coi là hiệu quả nhất . Khi ăn phải mồi có thuốc độc này , chuột sẽ chết sau năm đến mười ngày do cơ thể bị chảy máu trong . Vì chết chậm chuột không thể liên hệ được sự sút kém của sức khẻo với việc ăn mồi . Nhưng vào năm 1968 ở Anh đã xuất hiện một loại chuột đột biến , có phản ứng đông máu mạnh đến nỗi không bị chết khi ăn phải mồi độc nói trên .Gần đây , người ta đã điều chế được một loại thuốc chống đông máu mới , có khả năng diệt những con chuột nhờn thuốc . Liệu lũ chuột có khả năng sinh ra những đột biến mới nữa hay không ? cuộc chiến đấu vẫn đang tiếp diễn . CHUỘT CÓ HẠI , CHUỘT CÓ LỢI ,VÀ NHỮNG CON VẬT BẮT DIỆT CHUỘT Chuột cống là loại chuột nguy hiểm nhất . Chúng truyền bệnh cho người qua các loại ký sinh bám trên lông của chúng như bọ chó , ve , vét … ; các loại bọ này chứa vi trùng bệnh dịch (dịnh hạch , đậu lào , sốt phát ban ) chuột cống còn có tới 5,6 loại giun ký sinh . Chuột cống chuyên phá hoại mùa màng , lương thực , đồ dùng của con người (chuột,cùng các loại gặm nhắm và sâu bọ ,phá hoại trung bình 1/10sản lượng lương thực ). Chuột cống có sức sinh sản khá nhanh . Một con chuột trong một năm có thể sinh sôi ra 800con ,cháu, chắt . -Chuột chù , ai cũng ghê ghê vì mùi hôi của nó ,nhưng đây lại là một loài chuột … có ích. Bởi vì , tuy cũng là chuột ,nhưng chuột chù không thuộc loại gặm nhắm ,mà là thuộc loại ăn sâu bọ .Nó đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ mùa màng. -chuột bạch (gồm loại chuột nhắt , chuột bạch và chuột Đồng Nai ) ,được người ta nuôi để làm vật thí nghiệm trong công tác khoa học . -Chuột hải ly được người ta quý , vì chúng cho những tấm lông xếp vào loại tốt , thịt lại ăn được .Mỗi con chuột loại này nặng từ 1 đến 7 cân . Chuột hải ly quê ở Nam Mỹ đã được nhiều nước ở Châu Á , Châu Phi nhập . Ở nước ta , một số nơi đang nuôi gọi là chuột Mông Cổ . Tuy vậy , chuột có hại vẫn số đông và người phải dùng nhiều cách để chống , trong đó có dùng các loại vật khác . Mèo là con vật chiếm vị trí hàng đầu trong việc diệt chuột . Mỗi năm , một con mèo có thể bắt tới 7.200 con chuột các loại . Cho nên, hầu hết các nước trên thế giới đều nuôi mèo . Ở Nhật, cứ 100 gia đình thì có 10 gia đình nuôi mèo . Trước đây, ở Ai Cập người ta đã rất sùng bái mèo, coi đó là thần giữ thóc cho con người . Họ đã lập nhiều đền thờ để thờ mèo, mèo chết chủ nhân phải cạo lông mày để tang mèo hoặc ai làm mèo chết, có thể bị kết án tử hình . Ở xứ Gan (Anh ) , trong luật nhà nước có ghi : ai giết hay ăn cắp mèo phải đền một con cừu hay một chiếc khiên nhỏ . Cầy triết, cầy móc cua, cầy hương cũng góp phần diệt chuột , ở nhiều địa phương Trung Quốc, người ta nuôi cầy móc cua để diệt chuột thay mèo . Rắn sọc dưa, rắn ráo cũng góp phần tích cực vào tiêu diệt, người ta tính rằng mỗi con rắn sọc dưa nó có thể bắt chuột không kém gì mèo, mà lại không tốn cơm , không sợ bị ăn vụng……… Ngoài ra cũng phải kể các loài chim cú, thù thì, diều hâu,……..vào số các loài diệt chuột . Trong một năm một con cú có thể bắt được đến 2000 con chuột to nhỏ (số chuột này có thể ăn hơn một tấn thóc!) . Ở nhiều nước người ta làm tổ nhân tạo gần nhà hoặc gần ruộng để nhử cú tới ở . DÙNG CHIM LỢN ĐỂ DIỆT CHUỘT Diệt trừ bệnh hại bằng biện pháp sinh học hiện nay được coi là thực tế , nhưng dùng loài chim phòng trừ thì hiếm khi được coi là hữu hiệu. Vấn đề không phải là thiếu loài chim trừ được bệnh hại ,mà thiếu nhận thức để hiểu biết về chúng . Từng bước một, các nhà trồng trọt ở Malaysia đang tập trung vào sử dụng loài chim lợn ăn thịt để chống loài gặm nhấm , đặc biệt là chuột ; và họ đã có kinh nghiệm tốt ở các trang trại trồng cây cọ dầu . Các nhà nghiên cứu ở viện nghiên cứu cọ dầu Malaysia là những người đi tiên phong coi chim lợn là loài có ích trong phòng trừ sinh học . Họ đã lấy loài chim này là đối tượng nghiên cứu chính trong một chương trình phòng trừ tổng hợp từ những năm 1980 và đã chứng tỏ hiệu quả của cách làm này . Về ban đêm , những con chim lợn dường như là chủ thực sự của trang trại cọ dầu . Chúng trở thành thợ săn chuột tài ba , mức độ diệt chuột về ban đêm tăng lên đáng kể . Chỉ có một vấn đề cần lưu ý là tạo chỗ cho chúng làm tổ . Vị trí làm tổ không thích hợp sẽ làm cản sức sinh sản của chim ,dù có dư thừa thức ăn . Chúng tỏ ra thích thú với những cái tổ nhân tạo . Trên cành cọ dầu, mật độ làm tổ tăng lên 80 % vào mùa sinh sản, số lượng của chim cũng tăng khiến số lượng chuột giảm đi nhanh chóng . Mật độ thích hợp là mật độ đặt tổ cho mỗi hecta gieo trồng . Có thể là những thói quen sinh sống của các loài chim lợn ở các nước Bắc Bán Cầu đã khiến các nhà nghiên cứu sinh học không thấy được khả năng của chúng trong việc diệt trừ các loại gặm nhấm ở các vùng phía nam . Ở châu âu, chim lợn thường săn mồi các nơi thoáng đãng . Chúng kiếm ăn trên mặt đất hoặc từ trên cao lao xuống đớp mồi . Người ta cho rằng cách săn mồi đó không thể thực hiện được nơi có trồng các cây cọ dầu, vì cành cây che khuất đã hạn chế tầm bay của chim . Tuy nhiên các quan sát thực tế ở đây cho thấy hiệu quả săn mồi của chúng cũng giống như hoang đãng , chúng cỏ khả năng thay đổi cách săn mồi cho phù hợp với địa hình . Thay vì bay liệng, chúng đậu trên các cành cọ và rình mồi . Để giúp chim săn mồi, người ta đặt tổ của chúng vào những cây cọ còn non . Chim lợn có thói quen ăn uống đặc biệt đơn giản, khả năng săn mồi cao và đề kháng tốt với các loại thuốc trừ chuột Lenton (1980) va Snal (1990) đã chỉ ra rằng hầu như 100 % thức ăn của chim lợn là chuột . Một cặp chim trừ mùa sinh sản cần tới 1.200 con chuột cho một năm . Con số này rất đáng chú ý nhưng sẽ giảm bớt ý nghĩa nếu thiếu sót sự phối hợp giữa các biện pháp phòng trừ . Điều quan trọng là tỉ lệ chim sẽ thay đổi một cách ngẫu nhiên qua thời gian , và người trồng trọt phải chịu những đợt phá hoại , khi mà số lượng chim giảm xuống . Vì thế phải xây dựng một quần thể chim thích hợp . Để khyến khích tăng số chim tự nhiên , những “ốc đảo” cây xanh phải được bảo tồn trong các trang trại làm nơi cư trú cho chúng . Phải giữ không để các hoá chất trừ sâu gây bệnh làm ô nhiễm nước mương lạch và các dòng suối , và nguồn nước cần thiết cho cả chim và con mồi . Đất đai là nơi sinh sống của các loài hoang dã . Trừ một số loài gặm nhấm có hại , các loài có vú, rắn chim cùng sống trong vùng , cùng chia sẽ thức ăn và có nhiều loài trong số đó ăn chuột . Tuy nhiên hiệu quả của chúng trong việc phòng trừ tổng hợp chưa được kiểm chứng . Sử dụng những con chim lợn để săn mồi tại nơi chúng cư trú kích thích cho chúng sinh sản tại chỗ , có ý nghĩa hơn số việc đưa những con chim từ nơi khác đến do chúng đã có sẵn một số kiểu cân bằng tự nhiên với quần thể con mồi . Là những thành phần sinh học có mối tương quan chặt chẽ trong một hệ sinh thái đặc biệt , cả chim lợn và con mồi đều có cơ chế chống đối và tồn tại bên nhau . Việc đưa những loài không phải là bản địa vào là giả tạo, khiên cưỡng đối với một hệ thống đã có sẵn . Tuy nhiên việc độc lập tồn tại trong tự nhiên nói chung sẽ không đóng góp cho việc giảm bớt số lượng loài có hại . trong khi đất trồng có nhiều loài sâu hại hơn là dung nạp một loài có ích bất kỳ nào đó. Mùa màng có thể bội thu nhờ việc tăng số lượng chim lợn thông qua phổ biến tự nhiên , lai tạo giống và các biện pháp tự nhiên khác. Khả năng săn mồi của chim lợn có thể sẽ tăng lên do thay đổi môi trường sinh sống . Cây cối ngày càng thưa đi, thảm thực vật che phủ bị phá hoại làm tăng số loài sâu hại . Chỉ có các biện pháp làm sạch môi trường mới loại bỏ được nơi làm tổ của sâu hại có lợi cho loài có ích . Việc tạo ra nơi làm tổ, mở rộng vùng cư trú bảo vệ vị trí làm tổ và hang sẽ tạo điều kiện cho loài chim lợn săn mồi tốt hơn . DIỆT CHUỘT BẰNG CÂY CỎ Những cây thuốc nào có thể diệt chuột ? Theo kinh nghiệm dân gian , ở một số địa phương người ta lấy rễ cây huệ rừng (còn gọi là hương lâu, hương bài, tên khoa học là Dianella ensifolia (L) DC thuộc họ bách hợp Liliaceae ) giã nát vắt lấy nước uống . Dùng nước này để tẩm vào gạo, phơi khô, làm như vậy 3 – 4 lần . Sau đó rang gạo đã tẩm cho thơm để đánh bã chuột . Vỏ thân cây trúc đào phơi khô, tán bột trộn với cơm bả . Quả hồi núi phơi khô, tán bột , trộn với củ tỏi giã nhỏ, lượng bằng nhau làm thành viên để cho chuột ăn . Chất conchixin lấy từ dịch chiết trong cồn của rễ cây ngọt nghẽo 0,07 g tán nhỏ cùng với 100 g bột mì , làm thành viên để đánh bả (cây ngọt nghẽo có tên khoa học là Glorissa superba L thuộc họ bách hợp – Liliaceae mọc hoang và là đặc sản của các tỉnh thừa Thiên Huế đến Bình Thuận) . Theo tài liệu nước ngoài, nhân dân ở đảo Madagasca (châu phi ) đã dùng cả cây bèo cái phơi khô , tán thành bột rồi trộn với bột mì hay bột gạo để làm bả . ở châu âu người ta đã dùng cả cây hành biên với khối lượng vài trăm tấn mỗi năm . Công dụng diệt chuột ở đây đã trở thành phổ biến từ thế kỹ 19 . Cũ hành biên tươi loại đỏ (loại hành biên trắng kém hiệu lực) , giã nhỏ hoặc phơi sấy khô tán thành bột rồi trộn với thức ăn làm bả . Cây hành biên có tên khoa học là Urginea scilla steinh thuộc họ tính bách hợp Liliaceae, được nhập vào nước ta từ năm 1958. NHÓM CHUYÊN MÔN ĐAU ĐẦU Bả chuột chọn với cơm rang phi hành mỡ thơm nức mũi . Khắp trong nhà ngoài sân, cứ 20 mét vuông đặt 1 0g mồi . Kết quả : -Sau tối đầu thu được 7 xác chuột;10 xác chó, 5 xác mèo . -Tối thứ hai : 4 xác chuột, 1 xác mèo , 2 xác chó ! Nhóm chuyên môn đang đau đầu vì kết quả trên thì lại được giao nhiệm vụ bẫy chuột sống để nghiên cứu tại một nông trường thuộc tĩnh Vĩnh Phú . Mồi được chọn là loại thức ăn hàng ngày chuột ưa thích . Kết quả : sau tối đầu thu về được 50 chiếc bẫy không ,tối thứ hai may mắn hơn tóm được 2 chuột nhà. Hồi còn chiến tranh ác liệt, nhóm chuyên môn vào tận Vĩnh Linh bẫy chuột . Các em nhỏ tíu tít theo các cô, các chú đến nhà đặt bẫy . Hôm sau thu được chỉ tóm được vài chú chuột bé tí tẹo . Nhóm chuyên môn loay hoay mãi mới tìm ra nguyên nhân thất bại của mình . Qua thực tế đánh bẫy và bả chuột, các bạn hãy giải thích các hiện tượng trên . Giải thích : NHÓM CHUYÊN MÔN Trải qua quá trình sống gần người lâu dài, chuột đã thích ứng và tích luỹ được một số phản ứng tự vệ, hiện tượng sợ “vật lạ” ở nhiều cá thể chuột qua 3 giai đoạn, lãng tránh, hoàn toàn, tìm hiểu rồi thích ứng với “vật lạ”.
Trong giai đoạn tìm hiểu , nếu là thức ăn thì chúng ăn ít một, thấy có cảm giác bất thường chúng ngừng ăn . Nếu là bẫy thì bọn chuột chạy xung quanh nghe ngóng, con người xông xáo vào trước bị nạn thì những con khác kịp thời lãng tránh . Do đó có hiện tượng chuột tránh bẫy, sợ mồi, sợ cả tiếng động bất thường . Trên lý thuyết và trong thực tế có hai cách khắc phục hiện tượng trên : -Triệt mọi nguồn thức ăn hàng ngày của chuột của chuột . Bắt buộc chúng phải “chết vì ăn”. -Kiên trì bẫy chuột . Thả mồi chưa có thuốc độc cho chuột ăn quen ba, bốn ngày rồi mới trộn bã chuột. LẠ THẬT ! Vừa mấy hôm trước , dân phố phát bả chuột, bà X đã đánh được hai con to bằng bắp chân ………Thế mà vài ba ngày sau không hiểu sao bọn chuột trong nhà bà dường như lại nhiều hơn trước , chúng xục xạo cắn phá lung tung . Lạ thật!Bà X đem điều thắc mắc đó hỏi nhà chuyên môn Giải thích : LẠ THẬT Sự thể thế này : đợt đánh bả chuột ở khu phố có nhà bà X ……quá ngắn ngủi . Còn khá nhiều chuột lọt lưới ở cả ngoài đường phố cũng như trong nhà . Khoảng sống của hai con chuột vừa bị diệt liền bị một hoặc hai con khác chiếm cứ . Đến khoảng sống mới chúng phải tìm hiểu nơi ăn ở, nơi ẩn nấp, đường đi lối lại……nên xục xạo tợn .Vì vậy, bà X ……..cảm thấy như nhiều chuột hơn. Để tránh tình trạng này, nên tiến hành đánh bả hoặc bẫy chuột đều khắp và kéo dài trong một thời gian cần thiết . Vụ bê bối Vì con chuột Có lẽ lịch sử chưa biết tới một vụ kiện và xử kiện đặc biệt như vụ này . Nó kéo dài những hai năm mà đến này vẫn chưa ngã ngũ chỉ vì ……con chuột . Số là nhà sáng chế và độc quyền trong lĩnh vực sản xuất thuốc diệt chuột người Trung Quốc Siu Tuan đã đệ lên toà án Bắc Kinh kiện 5 giáo sư nổi tiếng vì “tội” mà Siu Tuan gọi là “tuyên truyền nhảm nhí , bôi nhọ danh dự ” của người khác . 5 vị giáo sư có tiếng mới công khai phát biểu trên các phương tiện thông tin đại chúng yêu cầu các cơ quan có chức năng thẩm định lại loại sản phẩm thuốc diệt chuột mà Siu Tuan là tác giả . Họ nói thuốc của Siu không phải như quảng cáo mà chứa nhiều chất độc có hại cho động vật nói chung chứ không nói riêng gì chuột .Có chất trong thuốc diệt chuột của Siu lại nằm trong danh sách những chế phẩm bị quốc tế cấm sử dụng. Toà dường như rơi vào tình thế khó sử vì một bên là 5 nhà khoa học lớn còn bên kia là một nhân có tiếng tăm . Hơn nữa 22 tấn thuốc diệt chuột mà các nhà khoa học đem tới trường đại học nông nghiệp Bắc Kinh để thậm định lại mua từ biên giới Trung – Nga . Số thuốc diệt này năm 1991 đã định chuyển sang Liên Xô theo hợp đồng nhưng phải đình lại từ tình hình chính trị tại đây bất ổn . Thêm vào đó mỗi lần thẩm định lại cho ra một kết quả nên toà không dám quyết và vụ án cứ thế kéo dài 2 năm nay . Từ đó đến nay thuốc diệt chuột của Siu Tuan đã gây ra nhiều vụ tai tiếng . Chỉ tính riêng tỉnh Quảng Đông đã có 6 người chết và 160 bị ngộ độc vì thuốc diệt chuột . Ngay từ năm 1990 nó đã bị cấm nhưng vì lợi nhuận mà người ta vẫn sản xuất chui và tung ra thị trường . Các kết quả phân tích cho thấy các độc tố trong loại thuốc bị chính quyền cấm không hề bị phân huỷ ở nhiệt độ 100 oC và trong thời gian 4 ngày . Giám đốc cục bảo vệ y tế Hoàng Sin Dao cho biết dịch toi xuất hiện dịch toi súc vật ở Quảng Đông do trong cỏ và thức ăn có lẫn thuốc diệt chuột . Nhiều người không biết vẫn mua thịt lơn và trâu bò toi và thế là bị nhiễm độc . Hiện cơ quan vẫn chưa tìm ra thủ phạm sản xuất loại thuốc này . Theo ước tính phải cần 120.000 dolla mới có thể lần ra mối vì công việc điều tra , kiểm nghiệm rất tốn kém . Chuột là loại gặm nhấm nguy hiểm sống ở khắp nơi từ kho hàng đến bãi đến những nơi tưởng như không phải để dành cho chúng như khách sạn . Hàng năm chúng phá huỷ mùa màng , gây ra dịch bệnh không biết bao nhiêu mà kể . Quanh thủ đô Bắc Kinh người ta đang phát động chiến thuật diệt chuột . Người thì dùng bẫy phun thuốc diệt chuột kẻ thì nuôi mèo thậm chí nuôi rắn để bắt chuột . Còn ở vùng Đại Liên, anh Ma Tan Quy một người nuôi gia súc nổi tiếng đã huấn luyện cho những con chó săn bắt chuột . Bình quân mỗi ngày mỗi con chó của anh bắt được 40 con chuột các loại . Trong vòng 4 năm các người bạn Ma đã tiêu diệt hàng chục tên cướp…….chuột . Còn ở tỉnh xứ Nguyên người ta lại dùng rắn để tiêu diệt chuột . Xung quanh các đồng lúa mì các nông dân Trung Quốc cho trồng các vành đai rừng và thả rắn vào để chúng sống trong đó . Các chú chuột rừng định bò vào ăn lúa mì đều bị rắn nuốt chửng hết . Cho đến nay chưa có người dân nào là nạn nhân của rắn cả . Đ.A(Theo Time 1/96) CÂU ĐỐ DÂN GIAN Bốn anh cùng chung một tên, Cùng chung một xóm chẳng chung một làng Một anh thi đỗ dễ dàng. Một anh hôi rích như chàng cú hoang. Một anh con đống cháu đàn. Một anh bé tí chẳng bằng ngón tay. (là bốn loại chuột gì ?) Đáp : chuột cống, chuột chù, chuột đàn, chuột nhắc
OPOSSUM LOÀI CHUỘT TÚI ĐỘC ÁC BỘ MẶT “HIỀN LÀNH” ĐÁNG NGỜ MỘT CON CHUỘT TÚI OPOSSUM CÓ THỂ ĂN THỊT NGAY CẢ MẸ NÓ, ĐÓ LÀ KHÁM PHÁ MỚI NHẤT VỀ LOÀI THÚ ĐÃ CÓ MẶT TRÊN TRÁI ĐẤT 130 TRIỆU NAY…… Opossum có lẽ là loài động vật có vú duy nhất dám ăn thịt đồng loại của mình . Nếu có dịp, nó ăn thịt cả mẹ nó . Trong dạ dày của con Opossum ở Virginia, Mỹ, có cả thịt của đồng loại lẫn các loài tương cận . “Không phải lúc nào các con nhỏ nhất và yếu nhất, chẳng hạn như con Opossum cái, mới biết ăn thịt – chuyên gia Martine Atramentowicz giải thích – chúng thường bắt đầu bằng cái đuôi của nạn nhân ” . Dường như loài thú này có những hoormone nội tiết có tác dụng ức chế sự đau đớn ở phần cơ thể đó : khi con vật nhận ra mình là nạn nhân thì đã quá muộn !
Năm 1987, trong một trang trại nuôi thú ở Pari , Martine Atramentowicz được chứng kiến loài sinh đẻ của Opossum đuôi trần (Caluromys phillander) nhập từ Guyane . Những con chuột túi Mỹ bé nhỏ có thể chào đời một cách dễ dàng trong cảnh nuôi nhốt, nhưng hãy coi chừng nạn ăn thịt . Martine nói : “chúng không chịu được hoàn cảnh nhiều con sống chung một chuồng . Phải tách rời bầy con với mẹ khi chúng đầy 4 tháng tuổi , nếu không chúng sẽ ăn thịt mẹ ngay . Có lần, cả bầy con đã ngưng bú ……..để ăn phần bụng của mẹ nó”. Không thể nào thuần dưỡng loài Opossum . Chúng rất hung hãn và có một trí nhớ rất tệ hại, chẳng hạn một con Opossum có thể bị sập bởi cùng một cái bẫy đó đến 40 lần . Tập tính của chúng giống như loài bò sát hơn loài động vật có vú . Khi bị bắt, chúng cố vùng vẫy bằng cách quất đuôi loạn xạ, một cái roi thực sự, dài hơn thân mình của chúng và đôi khi được dùng để treo ngược đầu xuống . Opossum là từ mà thổ dân da đỏ dùng để đặt tên cho tất cả các loại chuột có túi ở châu mỹ , nhưng loài cổ xưa nhất lại tìm thấy ở châu úc . Người ta đã biết được 20 loài chuột túi khác nhau, có thân hình nhỏ, sống đơn độc, ăn tạp, hoạt động về đêm . Chúng đã có mặt ở thời kỳ khủng long bằng chứng là đã có những mẫu răng của chuột túi được tìm thấy giữa các mảnh vỏ trứng của loài bò sát khổng lồ đã bị diệt chủng . Trái với một ý kiến đã được chấp nhận từ lâu. Một ý kiến khác cho rằng giống thú có túi đó không phải là tổ tiên của những loài thú có nhau như chuột rái cá hay sóc . Thật vậy hai nhóm thú này đồng xuất hiện cách đây khoảng 130 triệu năm : Giống chuột túi ở châu Mỹ , còn giống kia ở châu Á . Năm1997 nhà khoa học úc G.M.Air chứng minh được sự khác biệt giữa hai nhóm thú đó nhờ vào việc so sánh các đoạn acid amin trong huyết cầu tố và myoglobine của giống chuột túi và giống thú có nhau . Trước tiên cả hai nhóm cùng hiện diện ở vùng Euraise , châu phi và châu úc . Sau đó các chuột túi đã biến mất khỏi lục địa á, âu và châu phi , có lẽ do sự đấu tranh quá gay gắt với nhóm thú có nhau lớn xác nhất (nhất là loài hổ báo ) . Hoá thạch lâu đời nhất của loài chuột túi châu âu mà mẫu vật mà nhà thiên nhiên học Cuvier tìm thấy tại Montmartre . Con thú đó sống cách đây 35 triệu năm , thật lâu sau khi loài khủng long đã tuyệt tích . “Nhờ những đăc tính hoang sơ của chúng , giống Opossum cho chúng ta một khái niệm về sinh lý học của các giống thú có vú đầu tiên ” . Martine Atramentowicz nói . Khi đo lường lượng thức ăn và lượng oxy tiêu thụ trong thời kỳ mang thai và cho con bú, bà lượng định được sự tiêu hao năng lượng của con mẹ . Như thế bà có thể so sánh được lợi ích của “chiến lược sinh sản ” ở từng loài theo sinh tồn của đàn con . Bà rất ngạc nhiên khi thấy nơi loài Opossum, lượng tiêu thụ đó không gia tăng suốt thời gian mang thai (25 ngày) và tháng đầu cho con bú . Từ giai đoạn này (đầu tháng thứ hai) nhu cầu của con mẹ sẽ gia tăng và đạt gấp đôi sau khi dứt cho bú .
Thời điểm quan trọng nhất là lúc bầy con được một tháng tuổi , chúng sẽ chết nếu gặp mùa khan hiếm thức ăn, trái cây . Nhưng nếu chúng chết đi thì cũng không làm hại đến sự sinh tồn của giống loài, bởi cho đến lúc đó , năng lượng tiêu thụ của con mẹ chưa đáng kể . Lũ Opossum con mới chào đời con non mới đến mức mẹ chúng vào “ấp” vào trong túi bụng . Vài giờ trước khi đẻ con mẹ liếm kỹ phần bụng và cái túi rồi cúi về phía trước, nó bắt đầu đẻ . Lũ con mới đẻ bò lên túi và khi vớ được một cái núm vú, chúng sẽ ngậm chặt lấy . Con sơ sinh dài chưa đến 1 cm chỉ nặng khoảng 0,2 g . Mỗi con ngậm vào một vú riêng . Đến 4 tháng tuổi , lũ con mon men ra khỏi túi , bắt đầu thời kỳ dứt sữa . Một thời điểm đáng ngại : đôi khi vì đã chán bầu sữa , lũ con quay sang ăn bụng của mẹ nó. Trong đìêu kiện giam cầm , trung bình mỗi lứa , con mẹ nuôi 5 con , còn trong thiên nhiên , không biết có bao nhiêu con chết trước khi bò đến túi . Người ta quan sát được con opossum lúc sinh đẻ , vì khó nhận ra con cái nào đang mang thai ( khối lượng khi ấy chỉ tăng thêm 1,5 g ). 80 ngày đầu , lũ con chưa rời khỏi túi mẹ . Đến tháng thứ tư , chúng bắt đầu rời khỏi túi mẹ và dần dần đi xa hơn , miệng kêu lên những tiếng chói tai nhưng chẳng có gì tác động đến bà mẹ cả . Kế đó chúng ta sẽ ra đi , khởi đầu cho cuộc sống đơn độc . Bình thường loại Opsossum tránh nhìn thẳng vào mắt đồng loại , tựa như chỉ cần ánh mắt giao nhau là đủ để nảy sinh ra sự cắn xé . Đến gần thời kỳ trường thành về sinh dục , sự hung hãn của chúng gia tăng . Khi đối diện với một kẻ khiêu khíc , con Opossum sẽ nhe răng , kêu rít lên thở phì phì hoặc gầm gừ . Nhưng trước một kẻ thù nguy hiểm , nó có thể giả chết bằng cách ngả lăn xuống đất , mình cứng đơ , mắt đứng tròng , lưỡi thòng ra , sùi bọt mép , thải ra một chất hôi hám . Nó có thể nằm giả chết như thế trong nhiều giờ . Việc giao hoan của Opossum bắt đầu bằng những tiếng kêu có tần số cao do con đực phát ra . Con cái thì im lặng và di chuyển loanh quanh các cành cây , thỉnh thoảng dừng lại .Đột ngột con đực ôm lấy hông con cái bằng đôi chân trước và cắn vào gáy . Hai con rơi xuống nhưng được giữ lại bởi đuôi con cái . Sau đó đến lượt đuôi con đực quấn vào cành cây trước khi “hành động” . Xong việc , hai con rời nhau ra , con cái liếm lông làm đẹp trong lúc con đực tựa như lã đi . Kịch bản đó chỉ kéo dài hai phút mỗi lần , nhưng được lặp lại tới 24 – 28 lần liên tiếp . Sự xuất tinh hình như chỉ xảy ra ở lần cuối cùng . Lần này con cái quay ngược lên , quắp vào cành cây bằng mõm và chân trước . Cả hai tư thế dị kỳ đó chỉ kéo dài 3 phút . Loài Opossum chỉ sống được 3 năm . “có lẽ như việc mòn răng se õrất nguy hại cho chúng – Martine Atramentowicz cho biết – những con chết thường có hàm đã bị mòn nhụt . Đối với loài thú ăn thịt này , bộ răng chính là sự sống còn . ” |