12 CON GIÁP
CHƯƠNG I NĂM TÝ
GIỜ TÝ và VIỆC SINH CON VÀO NĂM TÝ
Cho đến hiện nay câu hỏi vì sao ngày xưa các cụ chọn chú chuột làm con vật đầu tiên trong 12 con giáp trong 12 con giáp vẫn chưa tìm được câu trả lời đầy đủ . Câu hỏi đó cũng khó như những câu hỏi đại loại : vì sao sinh ra đàn ông đàn bà ? Và hàng loạt “vì sao” thuộc về tạo hoá. Nhưng về biểu tượng 12 con giáp thì ta có thể giải thích được một phần .
Hệ biểu tượng 12 con giáp từ tí (chuột ) cho đến hợi (lợn) nói chung đều thống nhất từ Trung Hoa đến một số nước ở Đông Nam Á. Không phải ngẫu nhiên mà trong thế giới các loài vật xung quanh con người, người ta phải chọn ra 12 con vật, trong đó có 7 loại nuôi (trâu, mèo, ngựa, dê, gà, chó, lợn) 4 loài hoang (chuột, hổ, rắn,khỉ) và một con vật thần thoại là rồng làm biểu tượng đặt tên cho các giờ, các năm .Có thể thấy rằng người xưa đã thiên về trực giác, cảm quan là đa lý sự . Trong đó có trực giác cảm quan về sinh học – nay gọi là cảm quan sinh học .
Chính nhờ trực giác sinh động mà đông y biết được về giờ giấc tạng phủ biến đổi như giờ Tý là mật, giờ Sửu là gan, giờ Dần là phổi, giờ Ngọ là tim,……Điều này khoa học ngày nay đã chứng minh bằng thực nghiệm là đúng. Hơn nữa, khoa học ngày nay đã đặt ra một môn học nữa , gọi là Thời sinh học
Điều thú vị là con vật có cảm quan sinh học nên rất nhạy bén với sự thay đổi giờ giấc trong ngày . Con người đã quan sát các phản ứng sinh học của chúng mà định vị giờ giấc của mình, cho mình . Chẳng hạn như con gà thường gáy theo những giờ giấc nhất định mà theo đó con người biết gà gáy sang canh mấy , gà gáy sáng, gà gáy trưa ……Người ta chọn và đặt biểu tượng về giờ gà lên chuồng là giờ Dậu (tức là 17 –19 giờ hiện nay) . Nhưng vì sao giờ Sửu được đặt từ 1 đến 3 giờ sáng thì nhứng bác nông dân giàu kinh nghiệm giải thích giờ đó dạ dày trâu đã tiêu hết cỏ không có cái để nhai lại, trâu hay cọ sừng vào giống chuồng . Còn sở dĩ được đặt từ khoảng 3 đến 5 giờ sáng là vì giờ đó là hổ về hang, không có con hổ nào đi tìm mồi qua giờ ấy
cả .
Nếu việc chọn chú chuột làm con vật đầu tiên trong 12 con giáp vẫn chưa giải thích được , thì việc đặt giờ tý lại dễ hiểu hơn . Theo bà con ở nông thôn thì khoảng thời gian nữa đêm từ 23 giờ đến 1 giờ được đặt là giờ tý –giờ của chuột là chí lý . Thời gian đó chuột hoạt động mạnh, là thời kỳ “cao trào chiến đấu” chúng vô cùng tỉnh táo, nhạy bén và nhất là hay rúc . Nhưng cũng chính giờ này những chiếc bẫy chuột hay được sập xuống nhất, và “kẻ thù không độ trời chung” là những con mèo cũng hoạt động rất mạnh vào những giờ này, chứ không chỉ chờ tới giờ mãogiờ của mèo.
Còn nếu cầm tinh con gì thì các cặp vợ chồng đang tuổi sinh đẻ thường “phục” năm tý để
sinh con trai, bởi vì theo các cụ ta đúc kết năm tý rất tốt đối với con trai, nhưng con gái cầm tinh
chuột thì ………không khá lắm . Vậy cầu chúc cho các cặp vợ chồng muốn sinh con trai – chỉ xin
đừng vỡ kế hoạch vào năm tý, sẽ cầu được ước thấy .
HỌ NHÀ CHUỘT
Chuột thuộc họ gặm nhắm, bộ động vật có chủng loài và số thành viên đông nhất trong
thế động vật có vú .Đặc trưng của những động vật này là chúng có hai răng cửa trên và cửa dưới
. Nhờ hai răng cửa này mà chúng thích nghi với kiểu gặm nhấm thân rễ cây, quả hạch và nhiều
loại nguyên liệu cứng khác . Các răng cửa rất dài, hơi cong và cằm sâu vào xương hàm . Khi
phần răng nhô ra đã qúa mòn, phần cắm sâu lại tiếp tục nhô lên thay thế . Các răng hàm có nếp
nhăn va khi nhai, hàm dưới sẽ di chuyển từ trước ra sau thay vì từ trên xuống dưới như thường
gặp . Các động vât gặm nhấm thường có răng rất sắt vì phần trước của răng cửa và mép nhai,
được men răng rất cứng bảo vệ . Nếu một răng cửa bị gãy thì răng đối diện với nó sẽ tiếp tục
phát triển . Đôi khi răng này cong vào phía trong , khoá luôn xương hàm và con vật chết đói .
Bộ gặm nhấm có hơn 20 họ và khoảng 20.000 loài . Những loài phổ biến nhất bao gồm
sóc, sóc bay, chuột báo, chuột nhắt, chuột lớn, sóc Macmot (sóc đen) ,chuột nước, nhím,
Lemmus, kỳ nhông và thỏ . Riêng họ nhà chuột lớn và chuột nhắt (Critidae) đã chiếm đến ¼ các
loài động vật có vú ở Bắc Mỹ . Thành viên của họ này sống ở nhiều môi trường khác nhau ,
nhưng chúng hiếm khi xuất hiện ở nhà con người . Trong số đó có thể kể chuột chân trắng, chuột
đồng, chuột rừng, chuột bông . Những con chuột lớn và chuột nhắt phá phách nhất – chuột nhà
và chuột Nauy – thuộc về một gia đình có quê hương ở Châu âu là Muridae .
MỘT SỐ LOÀI PHỔ BIẾN
Chuột túi (PEROGNATHUS)
Đây là một loài gặm nhấm rất nhỏ dùng chân sau để nhảy . Giống như chồn túi , chuột túi
có túi mà bên ngoài kéo dài từ hai bên miệng xuống tận vai . Loài này chủ yếu sống ở mạng tây
của Bắc Mỹ, đặc biệt là ở các vùng khô cằn . Mỗi con chuột túi tự đào cho mình một hang trong
đất – nơi mà nó cất giữ những thức ăn (chủ yếu là hạt mầm) vừa mới thu lượm được . Chuột túi
chuyển thức ăn về hang bằng túi má . Chúng chủ yếu ra khỏi hang vào ban đêm, hái hạt mầm từ
cỏ và nhiều loại cây khác . Chuột túi thường đẻ 2 lần một năm, mỗi lứa từ 2 đến 8 con . Tuy
nhiên rất nhiều chuột túi con không thể sống đến tuổi trưởng thành vì đã làm mồi cho cáo, rắn,
chồn và cú . Mỗi chuột túi trưởng thành cũng chỉ có chiều dài (kể luôn phần đuôi ) từ 5 đến 13
cm
Chuột Kangaroo (ĐIPODOMYS)
Loài này cũng khó phổ biến ở mạn tây của Bắc Mỹ và là một trong những loài gặm
nhấm quyến rũ nhất . Với chiếc đuôi rất dài chuột Kangaroo có chiều dài từ 21 đến 42 cm .Lưng
đuôi có màu xám nhẹ hoặc nâu nhạt với những vằn trắng ngang hông . Phần dưới lại bao phủ bởi
những lông trắng toát, tạo nên một vẻ đẹp thú . như một con Kangaroo thật sự , chuột Kangaroo
chạy và nhảy bằng chân sau và dùng chiếc đuôi mảnh dẻ của mình để giữ thăng bằng . Loài
chuột này có khả năng nhảy rất đáng gờm ; chỉ cần một bước nhảy bình thường , nó đã bỏ xa nơi
đứng một khoảng cách đến 2,5 cm.
Tập quán ăn uống và xây tổ ấm của loài chuột Kangaroo cũng giống như chồn túi và
chuột túi . Là một loài vật lắm chuyện và hiếu chiến, chuột Kangaroo luôn luôn chiến đấu đến
cùng để chống lại những đồng loại to xác hơn , trừ khi chúng ở thời kỳ sinh sản . Chúng thường
cặp đôi với nhau và đầu mùa xuân . Mỗi lứa, chuột Kangaroo cho ra đời khoảng 2 đến 5 con .
Khi mới sinh đẻ , chuột Kangaroo con chưa mở mắt , đuôi và chân rất ngắn . Chuột mẹ chăm sóc
lũ con trong vòng 3 tuần đến khi chúng thôi bú .
Chuột sao (PEROMYSCUS MANICULATUS)
Cơ thể chuột sao có màu nâu nhạt hoặc nâu vàng ở phần trên, sáng nhất ở hai bên hông
và đậm nhất ở lưng, nơi có một ít lông đen, phần bụng và chân màu trắng . Về mùa đông, bộ
lông dày và dài của chuột sao trở sang màu nâu vàng có ánh bạch kim hoặc màu trắng tinh khiết
của tuyết, bộ lông che phủ toàn bộ lúc này lan ra cả hông và vai . Chuột sao sống trong các vũng
nước, hoang mạc, lãnh nguyên ( các đồng bằng không có cây cối ) và cả các sườn núi. Chúng
được tìm thấy từ khu vực nam cực đến Florida . Mỗi số chuột sao sống làm tổ trên cây, một số
lại thích chọn hốc gỗ cây làm địa bàn cư trú . Những con còn lại sống trong các hang đất . Chuột
sao ăn hạt mầm, côn trùng, trứng cá , gạo dự trữ và hành tỏi.
Chuột sao sinh đẻ mỗi năm từ 1 đến 4 lứa, mỗi lứa khoảng 2 đến 7 con . Chuột con được
sinh ra trong các tổ làm bằng vật liệu mềm . Chúng lớn nhanh như thổi và chỉ cần 2 tháng tuổi là
chúng có thể bắt đầu sinh đẻ . Chuột sao không nghỉ đông mà vẫn hoạt động trong suốt mùa
đông .
Chuột đồng (MICROTUS)
Loài chuột này rất phổ biến ở Mỹ . Chúng làm tổ bằng cỏ trên mặt hoặc trong lòng đất .
Tổ của chúng thường được phát hiện sau khi cỏ khô trên các cánh đồng đã bị cắt bỏ . Loài chuột
này ăn thóc gạo và gây nhiều tai hại cho cây ăn quả vì chúng gặm thân của những cây này .
Chuột đồng đẻ rất nhiều lần mỗi năm, mỗi lần từ 4 đến 10 con . Với mật độ sinh sản và lớn như
vậy, chuột đồng là loại động vật có vú đông nhất . Chuột đồng con có thể bắt đầu sinh con khi
mới một tháng tuổi .
Chuột sóc (ELIOMYS)
Chuột sóc sống ở châu âu , châu á và châu phi, không hề thấy chúng xuất hiện ở Mỹ .
Trong hầu hết các ngôn ngữ châu âu, chuột sóc được gọi là “những kẻ chuyên ngủ” . Mùa thu
loài vật gặm nhấm đuôi rậm và xinh đẹp này cuộn mình trong những hang kín gió “say sưa giấc
nồng” cho đến hết mùa đông . Chúng thức dậy trong khí trời ấm áp và ra khỏi hang vào buổi tối
để tìm nơi trú ẩn trên các cây to . Chúng sống nhờ vào hạt mầm trái cây và không xem thường
sâu bọ . Một số chuột sóc có cỡ bằng chuột lớn nhưng phần lớn chỉ nhỉnh hơn chuột nhắt một tí
Chuột nước (ONDATRA ZIBETHI CA)
Chuột nước rất phổ biến trong các đầm lầy , các ao và hồ nhỏ ở Mỹ và Canada (trừ vùng
Florida và một phần California) . Một số được nhập khẩu vào châu âu . Chúng đẻ nhiều lần
trong một năm , thường mỗi lứa cho ra đời từ 5 đến 6 con . Tuy nhiên có nhiều trường hợp sản
lượng lên đến 9 con . Vì là loài động vật có số lượng rất lớn nên lông chuột nước chiếm nhiều
phần chủ yếu trong nghề khai thác lông . Sau khi đã được chế biến, các bộ lông đen được nhuộm
và bán ra thị trường . Aùo ấm làm bằng lông chuột nước là loại áo lông nhẹ nhất và ấm nhất .
Chuột nhảy (JACULUS JACULUS)
Loài chuột này giống như những con Kangaroo nhỏ . Chân của chúng rất mạnh vớ một
bàn chân sau rất to . Nhờ các chân sau mà chuột có thể nhảy được những bước dài . Chuột nhảy
xuất hiện ở miền Bắc nước Mỹ , Canada và các cánh đồng núi ở Phương Tây . Loài vật đuôi dài
này ngủ suốt mùa đông . Chuột nhảy ở Bắc Phi và châu á còn nhiều điểm nữa rất giống với
Kangaroo . Chúng sống ở những khu vực khô cằn . Thực tế chuột nhảy có họ hàng rất xa với gia
đình nhà chuột .
Chuột Nauy (RATTUS NORUEGICUS)
Chuột Nauy hay còn gọi là chuột xám, chuột cống có quê hương ở châu á . Chúng xuất
hiện trên toàn bề mặt trái đất . Loài chuột này có chiều dài từ 30 đến 45 cm nhờ có đuôi râu rất
dài . Chúng được che phủ bởi một lớp lông xám, đặc biệt, lỗ tai của chúng cũng có lông những
khi xuất hiện, lông tai được xếp như vây cá . Chuột Nauy rất khôn lanh và quỷ quyệt . Chúng
sinh sản rất mạnh nên khi chúng sinh sống ở một khu vực nào đó thì rất khó lòng khử diệt hết .
Loài chuột gây hại này sống trong các bãi rác và lây truyền rất nhiều bệnh đáng sợ như bệnh
dịch hạch ở người giun xoắn ở heo và lao ở gà vịt . Không chỉ có vâỵ chúng còn gây rất nhiều
về thực phẩm dự trữ và nhiều nguyên liệu khác . Những thiệt hại về chuột Nauy và bà con gần
gũi nó – chuột đen (Rattus Rattus) – gây cho người tính theo tiền mặt là hàng tỉ đô la mỗi năm.
Chuột đen nhỏ hơn chuột Nauy một tí , rất thích hợp với khí hậu ấm như miền nam nước Mỹ và
vùng địa trung hải ở châu âu .
Chuột nhà (MUS MUSCULUS)
Đây là loài chuột gây hại thứ nhì sau chuột cống . Chúng là trợ thủ đắc lực của các bệnh
thông thường và dịch hạch trong việc lây truyền . Chúng là thủ phạm của những cuộc phá phách
lúa gạo dự trữ và cả trên đồng ruộng . Trong nhà, chúng không chừa bất cứ thứ gì từ vật liệu gỗ
đến áo quần và cả thức ăn . Tất cả những gì con người đều thích là nạn nhân của chúng . Cũng
như với chuột cống, con người cũng khó lòng tiêu diệt được chuột nhà một khi chúng đã lan vào
nhà . Trải qua hàng triệu thế hệ , một số chuột nhà đã lan tận sang lục địa Uùc , trên những khúc
gỗ trôi từ đảo này sang đảo khác . Những con khác tràn lan được nhờ ẩn náo trên những chiếc
tàu của người da đen và da nâu .Những tàu này đi từ các đảo châu á sang tận Hawaii
Newzealand . Cứ thế trong vòng 100 năm trở lại đây, loài đáng sợ nhất này đã có mặt khắp mọi
nơi trên thế giới .
Chuột nhà có số lần sinh sản khổng lồ mỗi năm, chuột nhà trưởng thành dài từ 15 – 18
cm với cái đuôi dài gần nửa thân . Bộ lông của chúng có màu xám, hơi nâu nhưng phần dưới
sáng hơn. Loài chuột nhà có mũi nhọn và lỗ tai dựng đứng .
Còn nhiều thành viên nữa trong gia đình nhà chuột . Trong đó có thể kể đến loài lemmus
, chuột tuyết (Microtus nivalis) , chuột gai (Liomysirroratus) , chuột rừng đuôi dài (Apodemus
sylvaticus) , chuột túi đuôi màu (Dasycersus , Cristicauda), chuột ……cơ man là chuột. Trong một
khuôn khổ hạn chế không thể kêu danh điểm mặt tất cả . Tuy nhiên, cần phải nói thêm đôi chút
về vai trò của chuột đối với con người. Chúng ta đã thấy rõ một số loài chuột gây hại cho con
người một cách nghiêm trọng . Tuy nhiên những loài như chuột nước không gây hại mà ngược
lại bộ lông của nó mang lại giá trị kinh tế và thẩm mỹ rất cao . Nhưng có lẽ vai trò quan trọng
của con người đối với chuột ở chỗ : chúng là thú bạch tạng dùng nghiên cứu trong phòng thí
nghiệm . Chuột bạch tạng là loại chuột thiếu một số sắc tố trong da , lông và mắt khiến cho da
nhẹ và lông trắng và mắt hơi hồng hoặc đỏ .Chuột bạch tạng thường xuyên xuất hiện tất cả các
loại chuột . Con người nuôi dưỡng chuột bạch tạng vì chúng tỏ ra rất hữu hiệu trong các thí
nghiệm khoa học, đăc biệt là khi nghiên cứu về bệnh trên cơ thể người .
CHUỘT CHÙ LÙN LOÀI THÚ NHỎ NHẤTn HÀNH TINH
Hình trên : Chuột chù lùn Srilanka
Loài thú nhỏ nhất hành tinh của chúng ta là chuột chù lùn ( Suncusetruscus) . Loài chuột
này chỉ nặng từ 1,2 đến 1,7 g và chỉ dài khoảng từ 3,5 – 4,5 cm . Nó có một cái đầu khá to
với cái mõm có vòi dài cử động được . Chuột chù lùn sống ở ngoại Capcase , Trung Á ,
Turkménistan , Ouzbékistan , Kazakhstan và ở nhiều nơi thuộc Nam Tây Aâu , châu Phi ,
châu Á . Chuột chù lùn Srilanka ( Podinik kura ) chỉ dài khoảng 4 cm , mõm có một cái vòi
rất dài , ở đầu vòi có hai lỗ mũi rất đặc biệt .
Liệu có loài thú nào nhỏ hơn hai loài chuột kể trên không ? Không thể được . Vì sao ?
Chúng ta biết rằng những động vật có khối lượng cơ thể càng nhỏ bao nhiêu thì bề mặt cơ
thể đối với 1 kg khối lượng càng lớn bấy nhiêu .
Lấy con người ra ví dụ : một em bé nặng 10 kg có bề mặt cơ thể là 0,05 m2/kg khối lượng
. Một thanh niên nặng 55 kg có bề mặt cơ thể nhỏ hơn chỉ bằng 0,027 cm2/kg khối lượng .
Bề mặt cơ thể càng lớn thì sự tỏa nhiệt tỷ lệ với khối lượng cơ thể càng lớn . Sự toả nhiệt
ở chuột chù cao hơn hẳn so với ngựa , tất nhiên là đối chiếu với tỷ lệ khối lượng ở từng loài
động vật . Do đó , chuột chù lùn phải ăn thật nhiều mới có đủ năng lượng đảm bảo cho sự toả
nhiệt của cơ thể và duy trì thân nhiệt ổn định .
Vì thế loài chuột phải ăn nhiều : một con chuột nhắt nặng 15 g trong một ngày đêm cần
ăn khoảng 10 g thóc khô , một lượng thức ăn nặng bằng 50 – 70 % khối lượng cơ thể , để
đảm bảo cho mức độ toả nhiệt . Chuột chù lùn có khối lượng cơ thể nhỏ hơn , bề mặt cơ thể
lớn hơn , sẽ phải ăn một lượng thức ăn nhiều hơn . Và tất nhiên không một loài thú nào có
kích thứơc nhỏ hơn chuột chù lùn mà có thể tồn tại được , vì chúng không thể ăn quá nhiều
để đảm bảo cho sự toả nhiệt khi bề mặt cơ thể quá lớn .
CHUỘT KẺ THÙ TINH KHÔN CỦA LOÀI NGƯỜI
Trong thế giới loài vật , chuột là bậc thầy về đấu tranh sinh tồn . Mỗi gia đình loài chuột
có khá đông “nhân khẩu ” , tồn tại theo kiểu đa đại (lắm khi thập đại ) đồng đường , đứng
đầu là một đại lão thử . Trước khi xuất quân , vị gia trưởng này phái các chuột trinh sát đi
thăm dò trước . Gặp thức ăn lạ mắt , hoặc có mùi lạ mũi , vị lạ miệng hoặc nhìn thấy những
vật hao hao cỗ máy tử thần ( bẫy chuột ) , các trinh sát viên phải điều nghiên kỹ càng – có
khi mất hàng tuần – trước khi đụng tới và nếu như chuột trinh sát tử nạn trước mắt đồng loại
thì , thôi nhé , vĩnh biệt mồi bã hoặc bẫy ! Về thể lực chuột được coi là kiện tướng đường
trường : có thể chạy marathon một mạch 15 km ( nếu tính theo tỷ lệ bước chân , khoảng cách
này tương đương với cự ly 250 km đối với con người ) . Gặp nguy hiểm , chuột còn có tài đu
bám ngửa bụng lên trời – dưới gầm giường chẳng hạn – và bất động trong tư thế đó nhiều
giờ liền cho mối nguy hiểm qua đi . Trong trường hợp khẩn cấp chuột có thể leo thoăn thoắt
theo phương thẳng đứng trên mặt đường nhẵn thín , trừ tường bằng kính , hoặc bò theo
phương nằm ngang theo trần nhà . Đang đứng yên tại chổ , một con chuột cống lớn có thể
nhảy vọt lên cao đến 1,5 m , gấp mấy chục lần chiều cao bản thân . Aáy là chưa kể đến tài bơi
lội như rái cá của chuột .
Trên lý thuyết , một cặp chuột sau 3 năm có thể sinh sản ra khoảng 1 triệu con , cháu ,
chắt , chút , chít …. Tuy nhiên , vì những “thiên tai , dịch hoạ” do người , rắn , mèo , cú , lụt ,
hạn …gây ra , chỉ còn khoảng 10-15% sống sót . Khoảng giữa thập niên 1970 , thành phố
Budapest đã phát động một chiến dịch rầm rộ tiêu diệt chuột . Xác chuột phải chở hàng ngàn
xe tải . Nhưng dân chúng chưa kịp mừng chiến thắng thì chỉ một năm sau , “quân số ” của
chuột đã lại tăng lên nhiều so với trước chiến dịch !
Cái đuôi của chuột có một sức mạnh đáng nể . Người ta giam một bầy chuột , bỏ đói mấy
hôm ròi đặt chậu thức ăn giữa phòng , sao cho từ mặt đất , chuột không thể tiếp nhận được
cái chậu . Lũ chuột leo lên xà nhà , một con bám chặt xà , cắn đuôi con thứ hai cho con này
buông mình xuống . Con thứ ba leo xuống , thò đuôi cho con thứ hai cắn rồi cùng buông mình
xuống . Cứ như thế cho tới khi con cuối cùng chạm được tới chậu thức ăn . Ăn no , nó leo lên
, bám vào xà , cắn đuôi cho con thứ nhất để “sợi thừng chuột ” thòng xuống chạm chậu thức
ăn . “Sợi thừng ” gồm 15 con chuột . Như vậy cái đuôi của con chuột thứ hai phải chịu đựng
sức nặng của thân mình nó và của tất cả những con bên dưới . Họ hàng nhà chuột quả có khả
năng đặc biệt để sinh tồn : chuột chịu được liều phóng xạ cao hơn các loài động vật khác .
Chuột phải luôn luôn gặm nhắm để mài mòn răng , nếu không răng sẽ dài ra đến mức nó
không thể ngậm miệng lại đựơc . Một con chuột cống cần lượng thức ăn khoảng 50-100 g
mỗi ngày . Một thành phố có khoảng 10 – 12 triệu con chuột , mỗi năm phải chịu mất trắng
khoảng 20.000 tấn lương thực , thực phẩm vì chuột .
BẰNG HAI PHẦN BA DÂN SỐ THẾ GIỚI
Chuột sống ở khắp nơi trên thế giới và có nhiều loài khác nhau , riêng chuột đàn ( Rattus
) có tới 570 loài , là chỉ có số lượng loài nhiều nhất so với bất kỳ chi động vật có vú nào khác
. Còn chuột nhắt ( Mus) cũng có khoảng 300 loài .
Gần đây , Mu-ra-xki , nhà động vật học Balan , cho biết : theo số lượng thu thập được thì
hiện số chuột trên trái đất đã lên đến …..trên 4 tỉ con nghĩa là bằng khoảng 2/3 dân số thế
giới .
42,5 TRIỆU TẤN LƯƠNG THỰC
Đó là con số khá kinh khủng về lương thực thế giới mà hằng năm họ nhà chuột đã ăn và
phá hoại ở ngoài đồng lẫn trong kho bảo quản . Số lương thực này do chuột phá bằng tổng
sản lượng lương thực của 25 nước nghèo trên thế giới cộng lại .
Trong một vụ mùa , một con chuột tha về hang 3 – 5 kg thóc , mỗi hecta có khoảng 20
hang chuột .
Một con chuột trung bình ăn một ngày khoảng 100 g thức ăn , bằng 50-80% trọng lượng
toàn thân nó; trong khi đó con cừu nặng 50 kg chỉ cần ăn 4 kg cỏ mỗi ngày và con bò 375 kg
ăn 18kg .
VỪA ĂN ……VỪA PHÁ
Qua thí nghiệm để một con chuột nhắt trong kho gạo , người ta nhận thấy : một năm nó
ăn hết 18,2 kg gạo và bài tiết ra 25.000 viên phân ( 1.8 kg ) , khoảng 4.640 cm3 nước tiểu .
Lượng hạt bị nhiễm bẩn , hư hỏng không dùng được nhiều gấp 10 lần số hạt chuột đã ăn .
BA NĂM ĐẺ HƠN HAI MƯƠI TRIỆU CON
Chuột đàn rất mắng đẻ . Chuột chửa 19-22 ngày , mỗi năm đẻ 5 –7 lứa , mỗi lứa 6 –10
con .Chuột con sau 3 tháng đã lại sinh sản . Chuột sống 3-4 năm .
Một đôi vợ chồng chuột nếu sinh đẻ “mẹ tròn con vuông ” thì chỉ sau 3 năm , cả con ,
cháu , chút , chít của chúng sẽ phát triển thành …. Trên 20 triệu con . Nếu con người và các
loài mèo , rắn , diều hâu , chồn , cáo , ….. không tích cực tiêu diệt chuột thì có lẽ chẳng mấy
chốc chuột sẽ sinh sôi nảy nở kín cả mặt đất .
BÍ MẬT VỀ NHỮNG VỤ TỰ TỬ CỦA CHUỘT
Ờ miền bắc Canada , bán đảo Scanrdinavi và miền bắc Nga có một loài chuột nâu dài từ
10 – 18 cm sinh sống lạ lùng là vào đầu mùa xuân hằng năm chúng có những cuộc di cư rất
lớn ; ngày ngủ đêm đi . Cứ 3-4 năm chúng lại đến những nơi xa hơn với số lượng đông hơn
để rồi hàng ngàn con lao mình từ vách đá dựng đứng xuống biển và mãi miết bơi cho đến
chết . Điều này được giải thích như là một sự hướng về đất cổ nơi tổ tiên xa xưa của chúng
sống khi mặt nước biển thấp hơn nhiều . Cũng có thể chúng tưởng biển nông và hẹp nên đi
liều . Tương tự ở vùng núi cao Trung Quốc cũng có hiện tượng tự tử tập thể của chuột núi .
Nguyên nhân là do , mùa thu mỗi con tự thu gom cho mình chừng 30 kg lương thực , người
dân ở đó biết thế đi tìm hang chuột để lấy về , khi chúng phát hiện bị mất của , chúng rủ
nhau lên cây cùng chết . Bí mật này vẫn còn là một ẩn số.
CHUỘT – TỰ SÁT TẬP THỂ VÀ NHỮNG CUỘC HÀNH QUÂN VÔ ĐỊNH
Vào đầu tháng 5 –1995 , trên một vùng rộng chừng 10.000 km 2 ở khu vực tự trị Tân
Cương ( Trung Quốc ) đã xảy ra hiện tượng chuột tự sát tập thể . Ở đây có loài chuột đồng
mắt rất to , dân chúng gọi là “quỷ mắt lồi ” . Chúng kéo đến các ao , hồ , từng đôi một cắn
đuôi nhau lao mình xuống nước tự tử . Chỉ vài hôm sau , tại tất cả các ao hồ trong vùng , xác
chuột nổi kín mặt nước .
Các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu và không phát hiện sự thay đổi nào trong não và
trong nội tạng của những con chuột tự vẫn . Chỉ một số biểu hiện bên ngoài được ghi nhận :
trước khi có hành động tự sát , chúng tỏ ra chậm chạp , mệt mỏi , phản xạ kém . Một số nhà
khoa học lo ngại về một số biến động sinh thái sẽ diễn ra : cáo , gấu , chó sói , cú mèo
…(những loại sống bằng chuột ) sẽ bị khan hiếm cái ăn .
Kinh nghiệm dân gian thì lại cho biết hiện tượng chuột tự sát tập thể là dấu hiệu báo
trước một trận động đất lớn . Có quan điểm khoa học cho rằng hiện tượng này là biểu hiện
của qui luật tự nhiên về cân bằng sinh thái : loại bỏ số khẩu dư thừa trong một cộng đồng .
Nhưng cơ chế nào dẫn đến hành động tự sát ( mà không phải là ăn thịt lẫn nhau chẳng hạn )
thì cho đến nay vẫn còn là điều bí ẩn .
Không bị con người và các loài muôn thú tiêu diệt nên lũ chuột ở vùng đài nguyên
phương Bắc nước Nga sinh sôi nảy nở rất nhanh . Ăn thịt nhau không xuể , chúng bèn kéo
nhau đi tha phương , để mặc lũ chuột con ở lại . Không biết sẽ đi về đâu , nhưng hàng tỷ con
chuột vẫn tự nguyện lên đường . Càng đi , lũ chuột càng trở nên hung hăng , cuồng loạn .
Gặp biển những con đi đầu không ngần ngại lao đầu xuống nước. Phải hàng triệu con tử đạo
con trong sóng biển mới giúp đoàn quân còn lại tỉnh ngộ ra mà rẽ sang hướng khác . Gặp khe
sâu chắn đường , những con đi đầu cứ điềm nhiên lao xuống vực . Xác chúng lấp đầy khe vực
cho đàn quân đi qua . Gặp sông , xác của đạo quân tiên phong sẽ là cầu nối cho hậu quân
sang bờ đối diện . Con người đã phải sử dụng mọi biện pháp mạnh nhưng vẫn không ngăn
nổi bước chân vô địch của đoàn quân chuột . Dùng máy bay phun thuốc trừ sâu ư ? Chỉ là trò
trẻ con . Phun thuốc có độc tính cao thì trước hết có hại cho người và hệ động vật nói chung ,
hơn nữa làm gì có sẵn một lương thuốc nặng đô lớn đến thế ! Vũ khí hoá học coi như thất thủ
. Có nơi người ta dùng mìn , nhưng đối với những tấm thân chuột bé tí teo , khả năng sát
thương của mìn cực thấp , còn sức ép thì chỉ làm các chú tí ngất đi trong giây lát mà thôi .
Dùng súng phun lửa , hiệu quả có cao hơn chút ít , song hậu quả cũng nặng – có thể gây ra
nạn cháy rừng , cháy đồng cỏ . Cũng may la øđi miết rồi chuột cũng kiệt sức , các chức năng
sinh lý bị sáo trộn , do phải ăn những thức ăn không hợp khẩu vị , không có điều kiện để giao
phối sinh nở … thế rồi bầy đàn tan tác , mỗi con chết gục ở một xó xỉnh nào đó , kết thúc
“hành trình qua lữa , nước , ống đồng” . Trong khi đó , nơi cố hương , lũ chuột thi nhau lớn
lên , sinh sôi nảy nở ồ ạt đến mức một thời gian nào đó lại phải tiến hành cuộc hành quân vô
địch đi tìm cái chết
Theo Thục Anh
KHẢ NĂNG THÔNG TIN CỦA CHUỘT
Theo các nhà khoa học Pháp , loài chuột thông minh hơn chúng ta tưởng . Các cố gắng
để giảm dân số chuột thường bị thất bại . Sức đề kháng của chuột luôn được các nhà môi
trường quan tâm . Tại Lyon ,Pháp , trên hội nghị xem xét một nghiên cứu mới , các nhà
khoa học khẳng định : vào lúc này chuột đã khôn hơn người : “chuột có khả năng tiên tri và
linh cảm cực kỳ phi thường . Không những thế chuột còn có khả năng thông tin cho đồng loại
” – Michel Daniel viết trong cuốn sách mới Loài chuột bạn trong bóng tối của chúng ta .
Sau 20 năm cố giải thích về tác phong và tư duy của chuột , Daniel tin rằng chuột là loài có
vú thông minh thứ ba chỉ sau con người và Hắc tinh tinh .
Chí thông minh không thể đo bằng kích thước não . Trong khi não của loài linh trưởng
khá phức tạp phù hợp với cung cách tư duy phức tạp thì não của chuột khá đơn giản và khối
lượng não so với thể trọng khá thấp . Điều mà Daniel và các đồng nghiệp quan tâm là khả
năng tiếp nhận thông tin về chuột cho thấy hệ thông tin của chúng rất tinh tế . Ví dụ , một
loại thuốc diệt chuột mới được đặt tại đường cống ở Pari thì chỉ trong vài giờ tin tức lan
truyền qua cộng đồng chuột hữu hiệu đến nỗi không có con chuột nào chịu ăn thức ăn có
thuốc !
Khi những loại thuốc diệt chuột đầu tiên được dùng , chuột đã phát triển một gene
kháng thuốc . Nhưng các nhà khoa học vừa khám phá ra rằng : Chuột còn có các phương
tiện tự vệ phức tạp hơn nhiều . Đối với các loại thuốc đời mới mạnh, chuột nhanh chóng
khám phá ra một vũ khí mới mà các nhà hoá học chỉ biết đến cách đây vài thập niên . Đó
là vitamin K dùng như thuốc giải độc để tự miễn dịch , chuột đã tìm kiếm và ăn những chất
có chứa vitamin K .
Một trong những phát hiện đáng lo nhất là chuột có thể truyền kiến thức tự vệ cho
nhiều thế hệ . “Nó đưa vào hệ thống gene và tập quán một số yếu tố tự vệ còn nhanh hơn
cả con người nhờ chu kỳ sinh sản cực kỳ ngắn ” – Daniel nói .
Được 3 tháng tuổi , chuột có khả năng sinh sản và mỗi lần cho ra trên dưới một chục
chuột con . Vào năm được mùa , một cặp chuột và con cái của chúng có thể cho ra một
ngàn hậu vệ , tất cả đều được lập trình di truyền về khả năng tự vệ . “Nữa thế kỷ cuộc sống
con người tương đương với bảy ngàn năm của chuột , trong bảy ngàn năm đó chúng ta đã
thay thế biết bao về mặt văn hóa và cấu tạo di truyền ” – Daniel nói .
Theo chuyên viên các loài có xương sống Michael Rampaud thì chuột có khả năng
truyền “mối ác cảm” với một chất (hoặc nhiều chất) nào đó của chúng cho đời sau . “Chuột
thường nghi hoặc bất cứ chất nào đặt trong lãnh thổ của chúng . Khi gặp lần đầu một mồi
mới , chuột chỉ ăn số lượng ít , không đủ gây tử vong , chỉ đủ gây các triệu chứng . Nếu
triệu chứng này xảy ra , chuột sẽ tránh chất độc và không cho phép các con vật khác đến
gần miếng mồi . ” – Rampaud nói
Một trong những cơ chế sống còn tinh tế nhất của chuột là khả năng thay đổi khẩu vị .
Chuột bô “hiện đại ” rất thích chất platics , chuột học được cách tiến hoá và sử dụng năng
lượng của platics . Cách đây vài thập niên chúng chưa có được khả năng này .Đây là tin tức
xấu cho con người vì chuột sẽ gặm nhắm dể dàng các dây điện thoại và máy tính làm hỏng
các mạng điện tử gây tốn kém hàng ngàn đôla USD .
Cho đến gần đây , các nghiên cứu về chuột chỉ được làm trên những chuột thí nghiệm
mà tác phong rất khác với tác phong của đồng loại ngoài đời . Chỉ khi dân số chuột gia tăng
người ta mới tìm hiểu về tác phong của chuột ngoài thiên nhiên . Theo ước tính ,tại pans ,
nhờ thức ăn rơi vãi dọc đường và nhờ nhiều mùa đông ấm áp nối tiếp nhau , dân số chuột
đã tăng lên 6 triệu con so với 10 triệu con ở Luân Đôn . Để tiêu diệt chuột các nhà sản xuất
thuốc sát trùng đã cố tìm ra một loại chất độc làm cho chuột ăn vào phải chết ngay sau ba
đến bốn ngày . Lợi điểm : Do chuột không bị suy yếu ngay sau khi dùng thuốc nên cơ chế
tự vệ của chúng không thể hoạt động để thông tin sớm cho đồng loại về nguy hiểm của
thuốc .











