12 CON GIÁP
11.KHÓC TRÂU
Giống như các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer , người M’ Nông có tục
đâm trâu hay còn gọi là “ăn trâu ” , “chém trâu ” để hiến tế thần linh trong các dịp lễ hội lớn
của gia đình hoặc cộng đồng . Khi con trâu đã được buộc vào cọc , tối ngày hôm đó , đồng bào
làm lễ cúng buộc trâu . Mọi người vui chơi uống rượu , đánh chiêng múa hát quanh ánh lửa, cây
nêu . Trong không khí vui nhộn của đêm lễ hội , người ta còn nghe tiếng “hát khóc trâu” sầu
thảm , buồn bả của người đàn bà chủ trận, của cô gái chăn trâu để an ủi vỗ về tiễn biệt con trâu
trước lúc bị giết làm lễ tế thần . Lời hát này chứa đầy nội tâm , diễn tả tình cảm gắn bó giữa
người với con trâu và sự tiết thương vô bờ đối với con vật nuôi thân yêu này .
Sau đây là một đoạn trong bài :
Khóc trâu
Ta thương trâu đã mười năm nay
Ta chăn trâu vào đủ trăm ngày
Mời trâu ăn nắm cỏ lần cuối
Mời trâu ăn lá cây lần cuối
Trâu hãy ăn lá Râng (1) lần cuối
Trâu hãy kêu nghé ọ lần cuối
Người ta đã cột trâu vào cộc rồi
Khách mời “ăn trâu” đã đến đầy nhà
Chờ sáng mai họ sẽ vào ngày hội
Ta thương tiếc trâu lắm trâu ơi!
Ta không thể giúp gì cho trâu được
Trâu hãy rung cho ngã cọc nêu
Trâu vùng vẫy cho đứt chùm dây
Người ta sắp xẻ thịt trâu rồi đấy!
Nơi vũng nước trâu dẫm vẫn còn
Chân trâu cào mặt đất còn dấu
Bãi cỏ nơi trâu còn đó
Ngọn núi kia trâu đi với cái
Bụi tre kia trâu vỗ ghé ngủ
Cây to kia trâu thường cọ khi ngứa
Đôi mắt tròn trâu tìm đường đi
Dòng suối nơi trâu tắm vẫn còn
Ta gặp trâu đêm nay nữa thôi
Người ta đã cột dây đầy cổ trâu
Người ta cột trâu nhiều dây chắc lắm
Người ta đã cho trâu đeo xâu cườm
Mũi sưng trâu đã cắm tang năr (2)
Ta đành chịu không cứu được trâu
Người chặt vào lưng xin trâu đừng khóc
Người đâm vào hông trâu chớ kêu la
Người chặt vào đuôi trâu đừng quất nữa
Nếu trâu quất e trúng lũ trẻ
Có bề gì ta phải chịu đền
Trâu chết đi bỏ lại vũng nước
Trâu chết đi bỏ lại cỏ non
Trâu chết đi bỏ lại vợ con
Trâu chết đi cho buôn làng vui
Cho thần lúa xuống ở trong nia
Cho thần lúa xuống ở trong thùng
Ta trao bột máu dê cho trâu
Ta cho trâu ăn bột củ nghệ
Ta cho trâu uống rượu ống nứa
Trâu uống đi trước khi trâu chết !
Ta tiếc thương trâu lắm trâu ơi!
Ta khóc thầm nơi bụi nsỉ (3)
Ta khóc thầm nơi tre non
Lưng trâu đã từng mang bàu nước cho ta
Lưng trâu đã từng chở tre về nhà
Cặp sừng trâu ta thường vuốt ve
Ta thường cỡi trên cổ trâu……..
Trâu bõ bãi cỏ sẽ mọc dài
Bỏ bụi tre , tre phải mọc trái
Thôi ta từ giã trâu ta từ đây
Trâu hãy ăn nắm cỏ này lần cuối
Trâu hãy ăn trước khi trâu chết
Để trâu về giữ con thần lúa./.
TẤN VỊNH – ĐIỂU KÂU
(1),(3) Các lá cây con trâu rất thích ăn
(2) Cây nêu nhỏ kết bằng chỉ xanh , có hình thoi, cắm vào sừng trâu khi làm cúng
12.LỄ RƯỚC BÒ TRÂU CỦA ĐỒNG BÀO KHMER NAM BỘ
Nhân ngày tết đến, đồng bào Khmer vùng đồng bằng Sông Cửu Long thường làm lễ rước
bò trâu theo tục lệ xưa cũ . Qua truyền tụng cứ vào đầu năm mới , nhà nông nặng một tượng bò
đất đem giữa đồng ruộng để tẩy uế tất cả các loài bò . Nắn hình con trâu để trừ bệnh cho loài
trâu . Nhân dân từ khắp nơi hợp lại làm một cái kiệu trên đặt 9 tượng người làm ruộng bằng đất
bề cao tới 5 tấc , 12 tượng người nhỏ lối 5 phân , một tượng bò – trâu to bằng con mèo và 12
tượng bò trâu bằng cổ tay . Số lượng 12 tượng trưng cho 12 tháng trong năm . Nếu nằm năm
nhuận thì số người và bò – trâu tăng thêm một .
Người chủ xướng cuộc lễ là vị niên trưởng trong làng gọi là À cha . Đoàn kiệu xuất phát
từ vị niên trưởng đi khắp các nẻo đường suốt một buổi sáng . Một giàn nhạc tháp tùng đoàn , tấu
những bản nhạc vui tươi , hầu hết các nông dân trong vùng xã đều đi phía sau . Kiệu đi ra ruộng ,
người ta đem tượng người và bò – trâu để xuống đất rồi trở về nhà , người ta cho rằng suốt buổi
chiều và đêm hôm ấy những hình tượng sẽ gánh hết mọi bệnh tật cho người khác và súc vật .
Sáng hôm sau, vị À cha cùng các nông dân ra ruộng đập bể 9 tượng người và tượng bò – trâu lớn
, còn lại các tượng nhỏ đem về trình quan chức địa phương . Theo tục lệ vị này thường cho các
ban tổ chức một món tiền tượng trưng .
Cuộc lễ rước bò – trâu dần dà được thay đổi nhiều tính chất . Trong đoàn kiệu chở tượng
người và bò – trâu bằng đất , người ta thêm hình bò – trâu bằng tre dán giấy to bằng con vật thật
. Mình trâu sơn 5 màu tượng trưng cho ngũ hành : kim , mộc , hoả , thổ , thuỷ . Sau kiệu có một
con bò hay trâu thật . Đoàn người đi khắp các đường phố ngừng trước miếu Ông Tà , thường
thường ở ngoài ven ruộng . Vị À chà đặt lễ vật lên bàn thờ gồm có bốn món ăn mặn , bốn món
ăn ngọt , rượu , nhang , đèn cầy . Ông quỳ lạy 3 lần , cúi xá 9 lần sát đất , cầu xin vị thần nhận lễ
, phù hộ nhân dân được mùa , trâu – bò mạnh khoẻ suốt một năm .
Những người đi theo cũng quỳ lại kính cẩn . Sau đó người ta đốt hình bò – trâu , đập bể
các tượng đất . Đoàn kiệu trở về nơi xuất phát con bò – con trâu bị xẻ thịt chia mỗi người một
phần . Cái đầu để dành cho người đại diện lớn nhất trong vùng, Nông dân lấy máu con vật bôi
vào phía dưới những viên đá tượng trưng cho vị thần Néak Ta tức ông Tà để xin thần làm mưa
cho dân cày ấy .
Các giống
TRÂU TRÊN THẾ GIỚI
Trên thế giới có rất nhiều giống trâu khác nhau , được đặt trưng bằng màu sắc lông da và
hình dạng cặp sừng . Trâu có ở châu Á , Phi , Mỹ La tinh và cả châu Aâu .
Trâu được thuần hoá từ trâu rừng vào khoảng giữa thiên kỷ thứ 3 trước công nguyên . Ở
châu Á có 3 loại trâu rừng : trâu Anoa , trâu Tamarao, trâu Arnee. Chỉ trâu Arnee được thuần
hoá thành trâu nhà, hai loại trâu kia còn sống hoang dã .
Anoa là loại trâu nhỏ nhất , chỉ có đảo Celebes (Inđônêxia) sống đơn độc hoặc từng đôi ,
có sừng ngắn chỉa thẳng về phía sau . Trâu Tamarao , chỉ thấy ở đảo Mindoro thuộc Philippines ,
cũng là loại trâu nhỏ , màu xám đen hoặc nâu sẫm , sừng ngắn và khoẻ , tạo với xương sọ một
góc 60-70 oC , sừng chỉ hơi cong , chóp sừng hơi vòng vào trong . Chúng sống trong các rừng tre
nứa rậm rạp hoặc vùng đầm lầy thành từng đàn nhỏ (khoảng 10 con) . Hiện nay chúng còn rất ít,
ở vườn thú Manila (Phillipnes) có 2 trâu cái loại này .
Trâu Arnee có nhiều ở Ấn Độ , Sri Lanka , Việt Nam Lào và Campuchia. Chúng sống
thành từng đàn lớn , gắn bó chặt chẽ với nước và dầm mình suốt ngày . Hiện nay số lượng của
chúng giảm bớt rất nhiều do con người khai hoang , phá mất nơi cư trú của chúng và do bị săn
bắn, bệnh tật . Đây là loại trâu lớn cao tới 1,4m nặng gần 1000 kg . Lông da màu đen xám, xám
sẫm hoặc nâu sẫm , sừng rất lớn gốc sừng cách xa nhau , cong ra phía ngoài , tạo với xương sọ
thành một góc 130oC , uốn cong hình lưỡi liềm chóp sừng hướng vào trong .
Trước năm 1945 loại trâu rừng này còn rất nhiều ở Đông Nam Java(Inđônêxia) ,
Malaysia, Thái Lan , Việt Nam Lào và Campuchia. Nhưng đến nay thì chúng hầu như không còn
nữa .
+Trâu nhà ở vùng Đông Nam Á rất gần với trâu rừng và rất giống nhau về hình dáng . Sự
giống nhau đó được duy trì vì thường có sự giao phối giữa trâu nhà và trâu hoang trong các vùng
núi . Chỗ sống tự nhiên của chúng là các đầm lầy hoặc các bãi sình , vì vậy được gọi là trâu đầm
lầy (Swamp Buffalo) . Trái lại trâu , của Ấn Độ , Pakistan được gọi trâu sông (Riverine Buffalo)
vì chúng thường sống ở các vùng có sông ngòi và ưa tắm giữa dòng nước sạch .
Trâu Campuchia và trâu Phillipines rất giống nhau về ngoại hình , màu sắc . Sự giống
nhau này thấy chung ở các nước Đông Nam Á do có sự trao đổi trâu giữa các nước . Ngay từ
những năm 1930 đã có việc xuất cảng trâu từ Trung Quốc sang Phillipines từ Lào sang Thái Lan
, Campuchia, Việt Nam , từ Thái Lan sang Malaysia . Nói chung chúng có màu lông đen hoặc
xám sẫm , hoặc nâu nhạc . Trâu trắng chỉ có 1% ở Phillipines , 5% ở Malaysia, 10% ở Thái Lan .
Trâu “bạch tạng ” có lông màu vàng nhạt , da màu hồng . Trâu đầm lầy có sừng lớn , cong tròn
hoặc hình bán nguyệt . Cặp sừng này có tác dụng để mở đường qua tầng cây thấp khi đi trong
rừng hoặc đào đất lên thành các hố bùn để dầm , tắm . Chiều dài của sừng 60-120cm , khoảng
cách giữa hai chóp sừng 50-90 cm . Một số Trung Quốc có sừng uốn cong gần như một vòng tròn
, hai chóp sừng chỉ cách nhau khoảng 12 cm . Những trâu lớn ở Inđônêxia lại có sừng dài quá
mức , khoảng cách giữa hai chóp sừng có thể lên tới 210cm , nó đi lại với cặp sừng rất nghênh
ngang . Trâu không sừng rất ít gặp .
Trâu đầm lầy ở Đông Nam Á không dùng để sản xuất sữa hàng hoá nhưng chúng cũng được vắt
sữa .Ở Penang , Kedah của Malaysia , ở Philipin hay Indônêsia đều vắt sữa trâu tại các hộ nông
dân và họ tự sản xuất một loại pho mai mềm , rất ngon .
Trái lại , trâu Ấn Độ , Pakistan (trâu sông ) là những giống trâu sãn xuất sữa nổi tiếng thế
giới . Những giống trâu này cũng thấy ở Tây Nam Á và Đông Nam Aâu . Riêng Ấn Độ đã có
hàng chục giống trâu sữa : vùng Tây Bắc có các giống trâu Murrah (hình đầu bài) , Nilli- Ravi,
Kundi; vùng Ấn độ có giống Surji , Mehsana , Jafarabadi, vùng trung Ấn có giống trâu Napuri ,
Manda, Jerangi, Kelabandi, Sambaipur; vùng Nam Ấn có giống Toda và Kanara…..Trâu Murrah,
Nilli- Ravi, Kundi ,Jafarabadi là giống cho sữa cao sản , còn trâu Surji , Mehsana có sản lượng
sữa trung bình . Nhờ phát triển nuôi trâu số lượng sữa ở khắp vùng , nhân dânẤn độ từ thành thị
tới nông thôn , nơi nào cũng có sữa tươi để ăn hàng ngày và chế biến , dự trữ các món ăn từ sữa .
Ở các vùng rất xa thành phố , thiếu nguồn điện nông dân vẫn tự chế biến sữa một cách đơn giản
theo phương pháp cổ truyền để tạo ra các món ăn đa dạng .
Từ lâu, người Ấn độ , Paskistan đã chọn lọc trâu theo sản lượng sữa và sừng xoắn . Kết
quả đã gây tạo được một giống trâu Murrah (có nghĩa là sừng xoắn ) . Đặc điểm của sừng là
sừng ngắn quay ra sau và lên trên , sau đó vòng vào thành hình xoắn ốc , mặt sừng phẳng.
Chúng có lông da đen tuyền , đôi khi có màu xám nâu hoặc xám nâu vàng . Còn trâu màu trắng
ít khi gặp và không được chọn làm giống . Đến nay giống trâu Murrah đã được xuất sang tất cả
các nước Đông Nam Á (kể cả Việt Nam) và còn được đưa sang tận Braxin . Trâu Murrah không
thích hợp cho cày kéo , vì chúng rất chậm chạp và không chịu được nóng . Mặc dù vậy chúng
vẫn dùng làm súc vật để cày kéo của nông thôn và cả thành thị ở vùng Bắc Ấn độ . Sản lượng
sữa trung bình đạt 1600-2000 kg /chu kỳ 9-10 tháng . Trâu Nilli-Ravi có sừng ngắn gốc sừng
rộng cong gập ra sau từ trên gốc sừng . Nó cho năng suất sữa từ 7-11 kg/ngày , những con kỷ lục
cho 16-18 kg/ngày , tỷ lệ bơ 7-8% . Trâu Kundi có sừng hình lưỡi câu (có nghĩa là lưỡi câu ) ,
sừng ngăn xoáy ốc khít dày ở gốc chóp sừng nhọn hơi nghiêng ra sau và xuống dưới rồi vòng
vào trong ba vòng hoặc hơn nữa . Sản lượng sữa là 1500-2000kg trong 10 tháng cho sữa .
+Ở châu Đại Dương chỉ có Uùc là nuôi trâu để lấy thịt , họ nhập trâu ở miền Timor
(Indonesia) từ năm 1824 , đó là loại trâu đầm lầy . Nó phát triển rất nhanh ở vùng đồng cỏ
hoang vu vùng cực bắc nước úc có khí hậu nhiệt đới . Nhiều trâu được thả rong và trở thành trâu
hoang vì không có người quản lý . Những trâu hoang này bị săn bắt để khai thác da .
+Ở vùng cận Đông và Nam Aâu , loại trâu chủ yếu là trâu sông , sống rải rác ở Thổ Nhĩ
Kỳ , Iran, Irắc , Bungari, Ý , Hy lạp và các nước Bắc Caucasus của Liên Xô cũ như Azerbaizan ,
Dagestan . Trâu Irắc sống ở đầm lầy phía Đông Nam nước này . Lông da màu xám tuyền , số ít
màu hung đỏ , đốm trắng ở đầu , chân đuôi là rất phổ biến . Một số trâu có những loang trắng ở
mình . Trâu vùng Hilla có sừng hình lưỡi liềm doãng , còn ở Basra trâu có sừng chạy dọc một
nửa cổ và vòng xuống phía dưới ở ¼ chóp sừng . Năng suất sữa lúc cao điểm đạt 12-14 kg/ngày
hoặc 1600-1800kg/chu kỳ 8 tháng . Trâu Iran có sản lượng sữa 2500kg trong 200 ngày vắt sữa .
Trâu Bắc Caucasus da màu xám đen, lông màu đen hoặc nâu sẫm , sừng hướng về phía sau và
hơi nghiêng sang hai bên, chóp sừng cong về phía trước và vào trong, sản lượng sữa trung bình
750-1000kg/ chu kỳ, những con cao sản đạt 1500kg. Trâu thịt tăng trọng 1000g/ngày , và giết thịt
trâu lúc 3,4 tuổi là tốt nhất . Trâu ở vùng Balkan được dùng kiêm dụng : cày kéo và thịt sữa ,
nhưng việc sản xuất sữa ngày càng quan trọng . Sản lượng sữa trâu Hy lạp đạt 900-2100kg , trâu
Abani: 800-1200kg, trâu Bungari : 1300-1500kg . Đặc biệt Trâu ý cho sưătới 1600-1800 kg / chu
kỳ . Ở ý phần lớn sữa trâu được dùng để chế biến pho mát Mozzarella . Màu sắc của châu âu
thường là đen , đen xám , nâu đen , nâu xám . Trâu Hy lạp ,bungari thường có chòm đuôi trắng ,
sừng có chiều dài trung bình , con đực 50cm, con cái 60cm . Sừng hướng về sau , sang hai bên ,
chóp sừng cong lên và uốn vào trong tạo thành hình lưỡi liềm .
+Ở châu Mỹ chỉ có Braxin là phát triển nuôi trâu . Các giống trâu sữa đều nhập từ Ấn
độ , chủ yếu là trâu Murrah và Jafarabadi . Giống trâu địa phương của Braxin là trâu Preto để
lấy sữa và trâu Roslo để lấy thịt . Chúng sống ở vùng châu thổ sông Amazôn . Trong các nước
vùng Caribê , chỉ có Trinidad là nuôi trâu để cầy bừa ở các đồn điền trồng mía và Guana nuôi
trâu để kéo gỗ . Từ những năm 1900-1945 họ có nhập các giống trâu của Ấn độ : Murrah và
Jafarabadi sau đó là Suzti .
+Ở châu Phi chỉ có Ai Cập là có nuôi trâu . Họ có hai giống : trâu Beheri nuôi ở miền
Nam và trâu Saidi ở miền Bắc , Giống Beheri to con, cho sữa tốt , giống Saidi nhỏ con , ít sữa
cày kéo khoẻ . Trâu Ai cập có sừng tương đối ngắn , cong về phía sau dọc theo đầu và chóp sừng
cong dần lên trên . Sản lượng sữa của trâu Ai cập 1300-2000kg / chu kỳ ở các trại thực nghiệm ,
nhưng ở các hộ nông dân chỉ đạt 700-900 .
Như vậy con trâu sống ở khắp các châu lục nhưng gần 90% trâu sống ở châu á, trong đó
Ấn độ là “vương quốc” tuyệt vời của con trâu , có sản lượng sữa trâu và thịt trâu lớn nhất thế
giới .
GS LÊ XUÂN CƯƠNG
VAI TRÒ KINH TẾ CỦA TRÂU
Việc đầu tiên các nước nuôi trâu nghĩ tới là phát triển trâu để sản xuất ra một sức lao
động động vật rẻ tiền , nhất là đối với những nước mà cơ giới hóa còn đang trong thời kỳ phôi
thai . Và hiện nay trâu đã được chú ý đến khá nhiều trong việc cho sữa ,cho thịt . Nhiều nhà
khoa học chăn nuôi thế giới nghiên cứu và chọn giống và lai tạo để biến trâu cày kéo ra trâu thịt
sữa đã có nhiều kết quả tốt trong lĩnh vực này .
1-Nguồn lao động rẻ tiền
Hình như trâu sinh ra để làm những công việc nặng nhọc mà những vật khác không làm
nổi hoặc không thích làm . Công việc của ruộng bùn lầy , ngựa và bò không làm nổi hoặc không
làm lâu được , thì trâu làm rất khoẻ . Đối với nghề rừng ở nước ta , trâu là một con vật qúy , nó
kéo gỗ rất khoẻ trên những con đường chật hẹp lầy lội trong rừng một cách dễ bảo . Khí hậu ẩm
thấp của rừng nhiệt đới không mảy may ảnh hưởng đến sức khoẻ của nó . Như vậy, trâu phải là
một thế mạnh của ngành chăn nuôi nhiệt đới nóng ẩm .
Aán độ còn dùng trâu để thồ và cưỡi , ở Ý người ta còn dùng cả đàn trâu 50-60 con để kéo
thiết bị lau rửa các quãng sông đào , Nhiều nước ở châu á như Trung Quốc , Việt Nam Lào,
Inđonêxia …….còn dùng trâu kéo xe , đập lúa quay quạt cối xay thóc , quay ép mía ……..
2-Sản xuất ra thịt
Cho đến nay , người ta thường đánh giá thịt trâu chưa thật chính xác . Phần lớn cho rằng
thịt trâu không ngon bằng thịt bò , không bổ bằng thịt bò . Nguyên nhân chính có thể là : Ở
những nước nông nghiệp cần sức kéo , người ta đã giết thịt trâu khi đã già , không còn lao động
được nữa : lúc đó trâu khoảng 15-20 tuổi , thịt dai và thô . Công bằng mà nói , thịt trâu tơ không
kém thịt bò . Thịt trâu có nhiều protêin , phốt pho , sắt hơn thịt bò , nên người ta thích ăn thịt trâu
tơ hoặc nghé . Nhiều nước ăn thịt trâu khô , hun khói hay ướp muối làm xúc xích .
Mặc dù nhiều nước trên thế giới sử dụng khá phổ biến thịt trâu , công tác chọn giống tạo
giống tạo giống trâu thịt vẫn chưa làm được nhiều , kết quả chưa có gì đặc biệt . Gần đây , người
ta đã lại thành công trâu với bò có một loại gia súc cho thịt khá đặc biệt .
3.Sản xuất ra sữa
Sữa trâu trắng hơn sữa bò và có vị ngon hơn một chút , chứa nhiều chất béo hơn và có
mùi khác hẳn sữa bò . Số lượng và chất lượng sữa trâu thay đổi tuỳ theo tuổi , thời gian đang cho
sữa , số lượng sữa , giống trâu , thức ăn mùa vụ , công việc nặng hay nhẹ…
Sữa trâu có nhiều vật chất khô , nhiều mỡ và nhiều chất khoáng nhất . Ngoài ra , còn có
nhiều vitamin , nhất là A và C . Về đạm , sữa trâu chỉ thua sữa cừu , hơn hẳn sữa bò và các sữa
khác . Về đường lác – tô thì thua sữa người . Tính chung , sữa trâu là loại sữa tốt nhất . Sữa trâu
có nhiều chất như can xi và phốt pho , nên được coi là thức ăn quý cho cơ thể đang sinh trưởng ,
cho trẻ còi xương . Hơn nữa , trâu rất ít mắc bệnh lao , nên sữa càng quý . Ở Việt Nam , chúng ta
thí nghiệm dùng sữa trâu cho trẻ em mới đẻ , đạt kết quả tốt . Cùng một lượng như nhau , sữa
trâu cho bơ gấp hơn hai lần sữa bò , vì tỷ lệ mỡ cao hơn . Về pho- mát cũng vậy , vì tỷ lệ đạm
cao hơn sữa bò .
4.Những lợi ích khác của trâu
Da trâu là một nguyên liệu quý cho công nghiệp . Da trâu thuộc rất bền và có sức đàn hồi
lớn , thường được dùng làm dây cua-roa và các loại dây công nghiệp khác , làm va-li , mũi giày ,
đế giày …
Sừng , móng , và xương trâu dùng cho sản xuất lược , ống điều , thìa , nỉa , cúc áo , cán
dao , và nhiều đồ trang sức khác , đặc biệt đây còn là những loại phân bón quý cho nông nghiệp
. Người ta còn dùng sừng trâu để sản xuất keo dính và mựa tàu , mỡ trâu làm nến , xà phòng và
xi.
Đối với nông nghiệp , phân trâu là một loại phân chuồng tốt có nhiều lân và kali. Một
con trâu mỗi năm có thể cho 3 tấn phân nguyên chất .
Ngòai ra , người ta còn dùng trâu để sản xuất vắc-xin phòng bệnh đậu mùa ; một con trâu
có thể cho tới 7000 liều .
Rõ ràng vai trò kinh tế của trâu rất quan trọng đối với đời sống con người . Vì vậy , nghề
nuôi trâu đã từng lâu được phát triển rất mạnh ở nhìêu nước trên thế giới .
TRẦN THẾ THÔNG
NUÔI TRÂU Ở NƯỚC TA
Với vị trí quan trọng của trâu trong nền kinh tế nông nghiệp nước ta , một mặt cần tổng
kết những kinh nghiệm lâu đời của nhân dân để cải tiến kỹ thuật nuôi trâu , mặt khác phải đẩy
mạnh các mặt công tác điều tra cơ bản , nghiên cứu khoa học để phục vụ phát triển đàn trâu ,
nhằm làm ra ngày càng nhiều sữa , thịt , sức kéo và phân bón .
Các giống trâu ở nước ta chưa được nghiên cứu kỹ . Số lượng các người nghiên cứu cho là
ở nước ta chỉ có một giống trâu tên khoa học là Buffalusindicus , nhưng khác nhau về ngoại hình
, khối lượng , các chỉ tiêu năng suất , chỉ là do điều kiện khác nhau về sinh sống , chăn nuôi sử
dụng mà hình thành . Công tác điều tra cơ bản phải được tiến hành nhằm xác định các nhóm
giống trâu ở nước ta , những tiềm năng của từng nhóm về sức kéo , năng súât thịt , sữa , đồng
thời điều tra kinh nghiệm của nông dân ta về chọn trâu cày , trâu nái . Từ đó , sẽ có cơ sở để
chọn giống , lai tạo thành những giống trâu chuyên cày kéo , cho thịt , cho sữa .
Với khối lượng khoảng 400 kg , các loại trâu tầm vóc nhỏ của ta thích hợp với việc cày
kéo để trồng lúa ; những loại trâu này lại chóng thành thục và mắn đẻ , tính nết hiền lành dễ
điều khiển và huấn luyện . Với khối lượng khoảng 600 kg và hơn nữa . Các loại trâu tầm vóc to
ở ta đủ khả năng làm những việc nặng như kéo gồ , kéo mía . Nhược điểm của những trâu tầm
vóc to này là chậm thành thục và đẻ thưa . Nếu cho giao phối giữa các nhóm trâu này để tạo
thành trâu tầm vóc trung bình , sẽ có năng suất sinh sản khá , bảo đảm được những yêu cầu về
sức kéo và thịt . Nhưng muốn tạo thành một giống trâu cho sữa mà giá trị dinh dưỡng cao hơn
sữa bò hướng chính là phải tạp giao với các giống trâu sữa cao sản của thế giới , đặc biệt với các
giống trâu sữa Ấn Độ như trâu Murrah . Bước đầu , việc lai giữa trâu ta và trâu Murrah đã tạo
được một giống trâu sữa có triển vọng thích nghi với điều kiện Việt Nam . Muốn cải tiến giống
trâu tăng năng suất sinh sản cày kéo , thịt , nhất là sữa trâu , phải nghiên cứu xây dựng những cơ
sở thức ăn , những đồng cỏ tốt . Vì chất lượng và khối lượng sản phẩm phụ thuộc trước hết vào
chất lượng thức ăn . Nông dân ta ở nhiều tỉnh vùng đồng bằng – là nơi rất khó kiếm thức ăn cho
trâu – đã có kinh nghiệm trồng những loại cỏ ở nước như cỏ bấc , loại cỏ này ngon và nếu thâm
canh thì 100 m2 cỏ đủ nuôi một trâu vừa kéo cày tốt vừa sinh sản đều . Đặc biệt cần khảo sát và
phát triển những kinh nghiệm trồng các loại cây cỏ ở nước của nông dân ta , kể cả các loại bèo
như bèo cái , bèo dâu từ trước vẫn coi như chỉ là thức ăn cho lơn . Những nguồn thức ăn thường
dùng cho bò như khô dầu ,u-rê , những phương pháp dự trữ thức ăn như phơi khô ủ xanh ,kiềm
hóa rơm ,cần được tận dụng vào việc nuôi trâu . Chỉ có giải quyết đủ thức ăn cho trâu , chủ yếu
bằng cách trồng cỏ ,mới khắc phục được tình trạng “ nuôi trâu trên vai ” , trâu gầy chủ yếu đỗ
ngã vào vụ đông – xuân ở đồng bằng ; hạn chế tiến tới loại bỏ nạn thả rong trâu bò ở miền núi .
Cũng cần tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước , vừa trồng cây gây rừng vừa tạo thảm cỏ dưới
rừng và tận dụng lá cây nuôi trâu .
Hiện nay , nhân tố hạn chế nhất sự phát triển nhanh đàn trâu ở ta là năng suất sinh sản
thấp . Tốc độ tăng trưởng hành năm của đàn chỉ khoảng 2% . Thời gian chửa của trâu dài ( 11
tháng – so với bò là 9 tháng ) triệu chứng động dục của trâu cái thường kín đáo , khó phát hiện ,
cho nên nếu không theo dõi kỹ , để lỡ một kỳ động dụng thì có thể 2-3 năm trâu mới đẻ một lứa
. Thậm chí kéo dài quá lâu không không chửa đẻ , con vật sẽ thành “ nân ” , “sổi”. Trâu cái ở
miền núi lại thường mùa xuân , nên nghé hay thường bị bệnh giun đũa ( đồng bào mìên núi gọi
là “ bệnh ỉa cức trắng ”) và chết với tỷ lệ cao . Vì vậy , qui trình kỹ thuật nuôi trâu ở miền núi
cần phải thực hiện là : không thả rong để theo dõi sát những kỳ động dục của trâu cái ; có đủ
trâu đực giống tốt để phối giống kịp thời ; tránh cho đẻ ngoài rừng làm nghé chết rét , chết vì sa
hố , vì thú dữ ; dự trữ thức ăn vụ đông – xuân cho trâu cái đẻ ; chăm sóc và cho nghé ăn thêm ;
phòng trị bệnh giun đũa và các bệnh khác như ghẻ , rận . Những tiến bộ kỹ thuật nhằm tăng
năng suất sinh sản và cải tạo giống bò cần được áp dụng cho trâu ; dùng kích dục tố để kích
thích trâu cái động dục , dùng thụ tinh nhân tạo bằng tinh lỏng và tinh đông , dùng thức ăn thêm
cho nghé hoặc dùng sữa nhân tạo nuôi những nghé thiếu sữa mẹ .
Trâu đổ ngã vụ đông ở đồng bằng phần lớn là những trâu mới đưa từ miền ngược về xuôi
, chưa quen với điều kiện thức ăn thiếu thốn và chế độ cày bừa nặng nhọc . Những trâu này
thường nhiễm những bệnh mạn tính như sán lá gan , tiêm mao trùng , nhưng trong đìêu kiện nuôi
dưỡng đầy đủ và làm việc vừa phải chúng vẫn chịu đựng được . Qui trình nuôi trâu ở vùng đồng
bằng phải bao gồm những việc ; trồng cỏ nuôi trâu và dự trữ đầy đủ thức ăn mùa đông , có
chuồng ấm áp khô sạch để trống rét để chống rét và những biện pháp tích cực phòng trị bệnh ,
nhất là bệnh tiêm mao trùng .
Bệnh lý học của trâu ở các vùng nhiệt đới đã được hiểu biết tương đối rõ . Trâu sinh sống
ở các vùng lầy lội , ruộng nước , thức ăn thường là những loại cây cỏ ở nước và rơm thô cứng ,
trâu không có đủ tuyến mồ hôi chống nóng như bò ngựa … những điều kiện đó giải thích tình
hình bệnh tật của chúng . Trâu thường mắc các bệnh dịch tả trâu bò , tụ huyết trùng , sán lá gán ,
giun đũa , chướng bụng đầy hơi … nhiều và nặng hơn bò . Cùng với việc tiếp tục nghiên cứu về
bệnh lý học của trâu nhiệt đới và các phương pháp phòng trị bệnh , phải áp dụng đầy đủ những
tiến bộ kỹ thuật về thú y cho trâu về các mặt tiêm phòng bệnh truyền nhiễm , úông thuốc phòng
bệnh ký sinh trùng , vệ sinh chăm sóc , nuôi dưỡng phòng các bệnh do khí hậu thời tiết , do nuôi
dưỡng kém .
TRỊNH VĂN THỊNH
TRÂU RỪNG
Con trâu ngày nay chúng ta thường thấy ở nông thôn là trâu rừng được thuần hóa nên trâu
nhà được người nông dân chăm sóc và sử dụng trong lao động sản xuất Còn đời sống của trâu
thì sao ?
Trâu rừng ( bubalus bubalis ) có tầm vóc vạm vỡ , nhiều lông , cao 180cm , nặng 700 –
1000 kg , sừng dài 194 cm , cong và vóng sừng mở rộng . Trâu sống thành đàn nhỏ 5-10 con ,đôi
khi có đàn đông đến 50- 70 con . Chúng thường gặm cỏ vào sáng sớm và chiều , nghỉ vào buổi
trưa và đêm . Đàn trâu thường gắn bó với “lãnh thổ” riêng của chúng gần những vùng trảng cỏ
có bãi lầy , vực nước và gần rừng . Chỉ khi lãnh thổ của chúng bị phá mất yên ổn do nạn cháy ,
bom đạn hoặc săn bắt gao thì trâu rừng mới di cư tới những miền lạ nước lạ cái . Trong khi di
chuyển , trâu đực già đi trước , tới nghé , trâu đực non và vài ba trâu cái .
Mỗi khi cảm thấy nguy hiểm , đàn trâu rừng thường xếp thành vòng cung , tất cả các
sừng đều quay ra phía trước , và bình tĩnh chờ kẻ thù . Trong thiên nhiên , không có động vật
nào dám tấn công trâu rừng . Trừ có hổ “ chúa sơn lâm ” đôi khi dám tấn công trâu rừng nhưng
cũng chỉ bắt nạt nghé hoặc trâu con . Khi đàn trâu chuẩn bị nghênh chiến thì hổ cũng phải coi
chừng . Người ta đã thấy nhiều trường hợp hổ bị lòi ruột khi đánh nhau với trâu rừng .
Trong đàn trâu , trâu đực quá già đôi khi bị “ đàn em ” đánh đuổi , phải xa đàn . Nhưng
nó vẫn lần theo dấu vết của đàn em để đi kiếm ăn , ít khi thấy trâu rừng lang thang đơn độc .
Trâu rừng sinh sản vào mùa hè , chúng giao phối vào mùa thu . Trâu cái chửa khoảng 10-
11 tháng , đẻ mỗi lứac một con , ít khi hai con .
Hiện nay , trâu rừng chỉ còn sót lại rất ít ở Việt Nam ( Tây Nguyên ) , Lào , Campuchia,
Thái Lan , Miến Điện , Ấn Độ ( Ataxm …) Người ta đã phải nghĩ tới những biện pháp tích cực để
bảo vệ loài trâu này .
VIỆT HÀ
SỮA TRÂU VÀ THỊT TRÂU TRÊN THẾ GIỚI
Toàn thế giới có hơn 142 triệu con trâu ( theo thống kê của FAO 1991 ), trong đó riêng
Châu Á có 136,8 triệu con . Các châu lục khác chỉ có 5,3 triệu con , tập trung ỡ Nam Mỹ . Trong
số “ top ten ” ( 10 nước hàng đầu ) nuôi trâu ở Châu Á , Việt Nam đứng hàng thứ 7 . Nước có
đàn trâu lớn nhất là Ấn Độ ( 77 triệu con ) thứ 2 là Trung Quốc ( 21, 6 triệu con ) thứ 3 là
Pakistan ( 15 triệu con ) . Sau đó , từ thứ 4 đến thứ 6 là Thái Lan ( 4,7 triệu con ), Indônesia ( 3,5
triệu con ) và Nepal ( 3,3 triệu con ) .Số trâu của Việt Nam nhiều hơn của Philippin ( 2,7 triệu
con ) , Mianma ( 2,0 triệu con ) và Lào ( 1,1 triệu con) .Những nước còn lại đều có số trâu dưới 1
triệu con .
Trong 3 nước đứng hàng đầu thì số trâu của Ấn Độ tăng liên tục ( 1970 có 61 triệu con ,
năm 1991 có 77 triệu con ), của Pakistan cũng vậy ( 1970 có 10 triệu con , 1991 có 15 triệu con )
. Riêng Trung Quốc , số trâu giảm dần từ 30 triệu con ( 1970) xuống còn 21,6 triệu con ( 1991).
Các nước nuôi trâu để kéo cày là chính . Tuy nhiên , trâu cũng là loài vật cung cấp sữa
và thịt . Đứng thứ nhất trên thế giới về sản lượng thịt trâu là Ấn Độ ( 977.600 tấn /năm ), Trung
Quốc ( 203.000 tấn/năm )rồi tới Pakistan ( 336.000 tấn / năm ) , Việt Nam đứng hàng thứ năm về
sản lượng thịt trâu ( 89.000 tấn / năm ) , sau Nepal (95.000 tấn / năm ) nhưng trên Thái Lan (
63.000 tấn / năm ) và Philippines ( 51.000 tấn / năm ) , Inđonesia (50.000 tấn / năm ).
Nhiều nước có sản lượng thịt trâu lớn hơn thịt bò như Ấn Độ ( 978.000 tấn thịt trâu so với
867,000 tấn thịt bò ) , Pakistan ( 336.000 tấn so với 326.00 tấn ) , Lào ( 24.000 tấn so với 9.000
tấn ) , Nepal ( 95.000 tấn so với 4.000 tấn ). Ở một số nước khác , sản lượng thịt trâu chiếm 40%
trong tổng lượng thịt bò : Philippin 40% , Malaysia 41% , Việt Nam 44,7%
Nhiều nước cho là thịt trâu ngon và bổ không kém thịt bò . Trong thịt trâu , tỷ lệ
Cholesteron thấp hơn thịt bò , do đó ăn thịt trâu ít bị tim mạch . Khi vỗ béo trâu tơ thì mức tăng
trọng cao hơn bò tơ . Một thí nghiệm ở Ấn Độ cho thấy : mức tăng trọng của trâu tơ ( 24 tháng
tuổi ) đạt 1.123 g/ngày , trong khi của bò tơ chỉ đạt 680 g/ngày . Nuôi vỗ béo trâu đã trưởng
thành ( trên 5 năm tuổi ) mức tăng trọng cũng đạt 716-966 g/ngày . Tỷ lệ thịt xẻ của trâu đạt
53,3% ( con đực ) và 51,8% ( con cái ) , cao hơn bò địa phương .
Tỷ lệ mỡ dưới da trong thân thịt xẻ của bò nhiều hơn của trâu . Ở trâu , phần lớn mỡ nằm
giữa các lớp cơ thịt ( 64,4% ). Trong khi mỡ dưới da chỉ có 19,3 % . Theo chiều hướng thiên về
thịt nạc , người ta thấy trâu thích hợp với việc sản xuất thịt cho thị trường hiện đại . Hàm lượng
protein trong thịt trâu là 19,1 – 22,4% nhưng hàm lượng mỡ thì thay đổi tuỳ theo độ béo gầy :
trâu béo tỷ lệ mỡ 15,4% trâu gầy chỉ có 1,15%. Năng lượng trong 1 kg thịt trâu từ 1.300 đến
2.500 calo . Nhìn chung , giá trị dinh dưỡng của thịt trâu bằng của thịt bò và bê . Đối với công
nghiệp chế biến thịt , đặc biệt đối với xúc xích , thịt băm và thịt cuốn , thịt trâu có phẩm chất
tuyệt diệu và trở nên phổ biến , nhất là thịt tươi và thịt trâu non , hoặc thịt đã làm lạnh . Thịt
nghé non đem giết ngay sau khi cai sữa , ở nhiều nước bán giá rất cao vì thịt rất ngon .
Sản lượng sữa trâu ở Châu Á đạt 41,7 triệu tấn , cao hơn một chút so với sản lượng sữa bò
; 41,1 triệu tấn ( số liệu FAO, 1991 ). Trong đó , những nước có sản lượng sữa trâu cao hơn sữa
bò như : Pakistan ( 11,1 triệu tấn sữa trâu so với 3,4 triệu tấn sữa bò ), Nepal ( 600.000 tấn so với
260.000 tấn ), Philippin (19.000 tấn so với 15.000 tấn ) . Ở Ấn Độ , trong 56,7 triệu tấn sữa thì
một nữa là sữa trâu . Trung Quốc sản xuất 7,48 triệu tấn sữa thì có 1,95 triệu tấn sữa trâu . Sữa
trâu có tỷ lệ chất béo rất cao : 7,0-7,8 % ( sữa bò chỉ có 3,2 – 3,9 % ) . Tỷ lệ đạm cũng cao hơn :
4,5 –4,8 % (bò chỉ có 3,1-3,4 % ). Do đó , nếu tính theo giá trị chất béo thì một lít sữa trâu tương
đương 2 lít sữa bò . Tổng lượng vật chất khô của sữa trâu được dùng để sản xuất bơ lỏng ( ghee)
rất được ưa chuộng ở các nước Nam Á . Còn dùng sữa trâu để sản xuất sữa thanh khuẩn (
drinking milk) thì thường phải tách bớt ra , hoặc chế “ sữa hổn hợp ” tức là trộn sữa trâu với sữa
bột đã tách bơ ( sữa gầy ), làm ra một loại sữa uống có giá trị dinh dưỡng cao .
o0o
Việc phát triển chăn nuôi và tiêu thụ sữa trâu , thịt trâu là mục tiêu chíên lược của nhiều
nước đang phát triển để tăng mức dinh dưỡng và tăng thu nhập cho nông dân . Việc chuyển đổi
mục đích sử dụng con trâu từ cày kéo sang thịt sữa là một cuộc cách mạng trong nông nghiệp ,
để đa dạng hoá sản phẩm , tăng tỷ lệ giá trị sản lượng chăn nuôi trong nông nghiệp , làm cho
nông dân giàu có , cuộc sống nông thôn trở nên văn minh hiện đại .
HÌNH ẢNH CON TRÂU
QUA Ca dao và Dân Ca
Con trâu trong ca dao và dân ca cũng được nói đến nhiều, vì con trâu đóng một vai trò
quan trọng trong sinh hoạt ở nông thôn . Từ việc ví von về tuổi tác đến công việc đồng áng hàng
ngày đều có mặt con trâu . Con trâu gần gũi thân thiết với con người như hình với bóng . Cho
nên nói đến con trâu là nói đến cuộc sống của nhà nông . Trong cơ nghiệp của nhà nông có một
phần đóng góp không nhỏ của con trâu .
Trâu có thân hình thô kệch nhưng thật thà, ngoan ngoãn và sự điều khiển của con người,
nếu không nói gần như trâu làm việc cho theo bản năng , mà không có sự thông minh :
Tuổi sửu , con trâu kềnh càng
Cày chưa đúng buổi lại mang cày về
Trâu thay sức cho người trong công việc đồng áng nên trâu có giá trị . Việc mua sắm trâu
trước đây là một việc hệ trọng trong đời người . Nhà nghèo khó sắm được đôi trâu để làm mùa ,
phần nhiều là mướn trâu :
Tậu trâu, lấy vợ, cất nhà
Trong ba việc ấy thật là khó thay
Từ buổi đầu lịch sử , khi dân ta biết trồng cây lúa nước, thì con trâu là người bạn thân
thiết, gắn bó với nông dân . Tất cả đều phải cần cù làm lụng , hổ trợ cho nhau để có miếng ăn :
Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn việc nông gia
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
Con trâu tuy có bận rộn vất vả trong những ngày mùa nhưng cũng có những ngày thong
thả đứng bên bờ ruộng ăn cỏ tươi, hoặc nằm trong chuồng ngậm bó rơm khô. Số phận của con
trâu và con người đồng cam cộng khổ :
Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa
Nông dân rất quý con trâu , nó là một phần tài sản của họ . Trước đây muốn đánh giá sự
giàu nghèo của nông dân, người ta có thể nhìn vào số lượng trâu bò của họ nuôi thì tất biết :
Thằng bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu…..
Tích chú Cuội là hình ảnh thật thà đến ngõ nghê của những anh chàng thất học, chăn trâu
đáng thương :
Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Để trâu ăn mạ, gọi cha ới ời!
Cha còn cắt cỏ trên trời
Mẹ còn cưỡi ngựa đi chơi cầu vồng
Trái lại đối với những thái độ những kẻ mua bán gian lận, xảo trá, lừa đảo thì không thể
nào tin nổi . Họ chỉ biết nghỉ đến quyền lợi của họ trên hết :
Lái trâu, lái lợn, lái bè
Trong ba anh ấy , chớ nghe anh nào !
Do đó, trong dân gian có một sự so sánh mỉa mai . Đây là một vấn đề tồn tại của xã hội,
đồng thời cũng là một vấn đề thuộc về đạo lý con người :
Thật thà cũng thể lái trâu
Yêu nhau cũng thể nàng dâu -mẹ chồng
Nàng dâu –mẹ chồng là vấn đề xung đột muôn thuở , hiếm có bà mẹ chồng nào và nàng
dâu thuận thảo . Nó đã trở thành một thứ thành kiến lâu đời trong gia đình . Tuy nhiên cũng còn
có thể dung hoà , cứu vãn vì có luật bù trừ , quả báo :
Chàng dữ thì em mới rầu
Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng !
Đáng tiếc có những cô gái đẹp giỏi giang mà gặp phải những ông chồng xấu xí đần độn .
Trước nghịch cảnh ấy , miệng đời có sự so sánh không mấy tốt đẹp :
Tiếc con gái khôn lấy thằng chồng dại
Tiếc bông hoa lài cắm bãi cức trâu !
Biết đâu cô gái sẽ trả lời :giữa thời buổi này con người khá khôn quỷ này , lấy thằng
chồng dại là khôn ? Cũng như có người chê vợ thậm tệ :
Thứ nhất vợ dại trong nhà
Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn!
Nhưng có người lại thích cho đó là vợ hiền , là lý tưởng trong đời :
Vợ dại thì đẻ con khôn
Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm
Bởi vậy ta cũng nên trở về với cái vốn có của ta , với cội nguồn và đừng quá mơ mộng
viễn vong . Cái gì của mình có vẫn quý, vì nó là cái có thật , trong sáng không ẩn chứa vẻ hào
nhoáng , bẩn thỉu :
Trâu ta ăn cỏ đồng ta
Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm
Tuy nhiên, ngược lại cũng đừng quá tự đề cao cái gì của mình cũng có nhất cả và tự bằng
lòng với cuộc sống ngu dốt , tối tăm của mình đến độ buồn cười :
Ai cho chăn trâu là khổ
Không chăn trâu sướng lắm chớ!
Ngồi lưng trâu ta hát nghêu ngao……..
Con trâu cũng là đề tài cho người ta trêu chọc, giễu cợt với nhau một cách tình tứ trên
những cánh đồng vào những ngày mùa .
Trâu kia cắn cỏ bờ ao
Anh kia không vợ, đời nào có con ?
Hoặc qua hình ảnh con trâu để gợi chuyện làm quen với các cô gái nông thôn tay lấm
chân bùn mà trông thật có duyên :
Hỡi cô cắt cỏ đồng mầu
Chăn trâu cho béo, làm giàu cho cha
Giàu thì chia bảy chia ba
Phận em là gái được là bao nhiêu
Các cô gái cũng không kém hóm hĩnh, thách những chàng trai đeo đuổi xin cưới mình .
Hoặc các anh chàng đem của ra khoe khoang , hứa hẹn khoác lác với người đẹp .
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm
Đến khi có vợ rồi, nên tránh dẫm những con đường hẫm hiu của những kẻ tham lam đã đi
trước .
Ba vợ , bảy nàng hầu
Đêm nằm chuồng trâu , gối đầu bằng chổi
Con trâu đóng góp cho cơ nghiệp nhà nông rất nhiều, nhưng cũng được trả ơn không bao
nhiêu ! Khi sống đã hết lòng tận tuỵ với chủ và lúc chết cũng bị chủ tận dụng, xẻ thịt lột
da……..Đúng là con vật hiền lành và hữu ích từ lúc sống đến khi chết .
Con trâu có một hàm răng
Aên cỏ đất bằng , uống nước bờ ao
Hồi sống mày đã thương tao
Bây giờ mày chết, cầm dao xẻ mày
Thịt mày tao nấu linh đình
Da mày bịt trống tụng kinh trong chùa
Sừng mày tao tiện con cờ
Cán dao, cán mác, lược dày, lược thưa…….
Nói đi nói lại rồi chẳng đi tới đâu mà cũng không hết chung quanh vấn đề con trâu. Hiện
tượng đó giống như câu hát ru con đong đưa , lòng vòng , lẩn quẩn , rốt cuộc lại đưa con trâu về
nơi xuất phát đầu tiên
Ví dầu ví dẫu ví dâu………..
Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng!
Hình ảnh con trâu qua ca dao và dân ca cho thấy con trâu gắn liền đời sống nông dân lâu
đời . Ngày nay thời đại tân tiến công nghiệp hoá, người ta dùng máy cầy , máy xới,máy gặt liên
hợp ……Con trâu “sắt” thay thế dần cho con trâu bằng xương bằng thịt , nhưng dù cho trâu thiệt
hay trâu “sắt” có ai còn nhớ đến một thời cơ cực làm ra lúa gạo của con trâu và nông dân .
Lao xao gà gáy rạng ngày
Vai vác cái cày, tay dắt con trâu
Bước chân xuống cánh đồng sâu
Mắt nhắm mắt mở, đuổt trâu ra cày
Ai ơi, ăn bát cơm đầy
Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?
VIỆT CHUNG











