12 CON GIÁP

TRẦN TRỌNG TRÍ INĐÔNÊ XIA NƠI CON TRÂU ĐƯỢC TÔN VINH
Inđônêxia, quốc gia quần đảo bao gồm 3000 đảo xanh tươi màu mỡ như một chuỗi ngọc ,
dọc đường xích đạo . Mặc dù nguồn gốc dân tộc Inđônêxia còn chưa biết đầy đủ sự pha trộn
chủng tộc của nó là kết quả của nhiều chuyến di dân trong một thời gian dài từ lục điạ châu á
đến vẫn có một mối liên hệ chung giữa các dân tộc khác nhau như người Balak và người Minang
Kabaus trên đảo Sumatra với người Torajas trên đảo Salawesi . Tất cả đều thờ kính tổ tiên và
đều tôn vinh CON TRÂU NƯỚC như một biểu tượng lớn có vai trò thực sự trong cuộc sống ngày
thường của họ .
 

Người Minang Kabaus ở Tây Sumatra ai cũng biết truyền thuyết : “Xưa kia các hoàng tử
Malaixia đã mang đến vùng này kỹ thuật canh tác cùng với tôn giáo của họ “(Hồi giáo) . Một
hoàng thân đã có ý muốn sát nhập vùng ấy vào đất đai của mình để trở thành ông vua miền tây
Sumatra . Dân địa phương ra sức chống lại vị hoàng thân sợ không bảo đảm được an toàn rừng
núi hiểm trở này đã quyết định dùng mưu mẹo . Ông ta có một con trâu tuyệt vời được nuôi dưỡng
và chăm sóc đặc biệt để thi thố . Ông tuyên bố nếu có con trâu nào ở địa phương đánh bại được
nó , ông sẽ thôi ý định xác nhập . Dân địa phương họp bàn và chọn một con trâu chắc khoẻ , bí
mật gắn cho nó một đôi sừng bằng sắt và trong cuộc chiến đấu , con trâu chiến của vị hoàng thân
bị húc thủng bụng . Dân địa phương họp mừng chiến thắng quyết định đặt tên địa phương mình là
: “trâu chiến thắng” (Minang = trâu , Kabaus = chiến thắng ) và từ đấy đôi sừng trâu là vật trang
trí trong các mái nhà – Người Batak ở Bắc Sumatra sống quanh hồ lớn Toba ngày nay là một
cộng đồng giỏi buôn bán có tài tính nhẩm bẩm sinh . Ở lễ cưới của người Batak bao giờ cũng có
tổ chức trọi châu với ý nghĩa những đức tính của con trâu chiến thắng sẽ truyền sang đôi trai gái
mới lấy nhau ” .
 

Người Toradja thuộc các tộc người miền núi ở Trung Salawesi- hòn đảo lớn thứ tư của
quần đảo , xếp sau Sumatra , Kalimantan (Borneo) và Irian Jaya (Tân Guinée) nhưng lớn hơn
Java – theo truyền thuyết tổ tiên họ đã từng lên trời xuống biển bằng những con thuyền hạ
xuống các ngọn đồi nơi đó , dựng lên những ngôi nhà đầu tiên gợi lại hình dáng những con
thuyền . Những ngôi nhà truyền thống kiểu mũi thuyền như thế nay là đối tượng thu hút khách
du lịch đến tham quan . Ở đây các nghi thức tôn vinh cuộc sống và cái chết là những lễ hội linh
đình vật tế thần bao giờ cũng là con trâu đẹp .

Như vậy , con trâu , con vật lao động cật lực của người Châu Á , với người Batak ,
Minang Labaus và Toradja còn gắn với các nghi lễ tôn giáo và nghệ thuật dân tộc .
HIỀN LÊ
 

CON TRÂU TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI NGƯỜI VIỆT
 

Được biết Đông và Nam châu Á là vùng sinh thái tự nhiên của trâu rừng , đã được thuần
hoá sớm thành trâu nhà . Trước khi nông nghiệp –cày ra đời khá lâu , trâu nhà được dùng để
dẫm nhuyễn ruộng nước trước khi gieo lúa . Từ khi trâu được thắng vào cày thì nghề trồng lúa
nước của từng xứ sở đã trù phú hẵn lên . Cùng làm , cùng ở với người , lâu dần trâu trở thành
thân thương gắn bó với xóm làng , rồi có vị trí quan trong tâm tưởng cổ truyền của dân quê . Từ
đó mà có biết bao chuyện xoay quanh con vật đứng đầu lục súc của Việt Nam này .
Trâu đứng thứ hai trong mười hai con giáp , Lịch Pháp cổ ghi nhận tháng GIÊNG là tháng
TRÂU , lại còn cẩn thận ước lệ cả việc vẽ lịch : người đứng trước trâu la năm lập xuân sớm , và
người đứng sau trận lànăm lập xuân muộn , giúp cho quan đời xưa chỉ đạo mùa vụ cho hợp thời .
Lịch chính thống có tháng Sửu , năm Sửu . Lịch dân gian ta còn có tháng Ngâu ( tháng 7
âm lịch ) đọc trệch từ Ngưu mà ra , mà xuất xứ là câu chuyện tình giữa chàng chăn trâu ( Ngưu
Lang ) với nàng dệt lụa ( Ả Chức) .
 

Quê hương Việt có không thiếu gì địa danh gắn với trâu , trong đó ít nhiều tên từ huyền
thoại bước ra : Hà Nội có sông Kim Ngưu ( TRÂU VÀNG ) ; thành phố Hồ Chí Minh có Bến
Nghé tức rạch NGƯU TÂN đã được Trịnh Hoài Đức khảo tả trong “ Gia Định thành thông chí ”;
Ngoài khơi Hòn Khói có nhiều hòn TRÂU NẰM ( Ngoạ Ngưu ) …
Trâu là biểu thị tài sản của nông hộ cổ truyền , cho nên đã có biết bao lời ca dao về con
vật “ đầu cơ nghiệp ” này . Người ta khẳng định “làm ruộng không trâu – làm giàu không vốn ” .
Người ta khuyên nhau “ muốn giàu thì nuôi trâu nái ” . Phú ông xưa trong nhà không có vàng
bạc trâu báu mà là “ chín đụn , mười trâu ” hay “ 3 bò , chín trâu ” . Trâu là ao ước của nhà
nghèo , nhà lành nên mới có câu ca “ Tâu trâu , lấy vợ ,làm nhà ; cả ba việc ấy thật khó thay !”.
Nhớ lại hồi cải cách ruộng đất ở mìên Bắc , nhiều thôn thiếu trâu , phải bình quân mấy hộ chung
nhau một trâu . Thế là mỗi hộ một chân trâu .
 

Trẻ Việt xưa kia , nhiều em đã từng chăn trâu ? để rồi khi có cơ hội đến trường đã mở
lòng mà đón bài học thuộc lòng “ ai bảo chăn trâu la khổ ?” . Nhân tiện cũng xin kể thêm
chuyện chăn trâu của mấy nhân tài anh kiệt . Đinh Bộ Lĩnh lúc nhỏ chuyên chăn trâu cho chú .
 

Cậu thiếu niên có khiếu quân sự này đã từng cắm cờ lau đánh trận trâu với bầu bạn . Về sau ,
gặp thời hỗn chiến xứ quân , Đinh đã ra tay dẹp yên bạo loạn , tạo lập nền thống nhất quốc gia –
dân tộc với ngôi báu của mình . Đào Duy Từ vì là con gia đình hát xướng , nên đã bị cấm thi .
Ông bèn bỏ quê ở đàng ngoài vượt sông Gianh vào Nam tìm chúa Nguyễn mưu sự nghiệp
 

Trước khi được giới thiệu với Chúa , Đào đã từng mấy năm sống bằng việc chăn trâu ,
đồng thời dành thời gian để viết tác phẩm “ Ngoạ long cương vãn ” trình Chúa Nguyễn lúc ra
mắt . Chúa được người tài đã phất hẳn lên .
Trâu có mặt trên đồng tiền giấy Đông Dương thời Pháp đô hộ . Và với “con trâu ”, tiểu
thuyết hiện đại Việt Nam đã có tới hai cuốn thành công của Trần Tiêu và Nguyễn Văn Bổng .

Vậy là trâu đã đi vào huyền thoại , lời ca dao , chuyện thật . Nhưng trâu cũng gây cười
giữa rừng cười nhà Trạng . Chuyện kể rằng : Biết ta là xứ có tục chọi Trâu , có lần sứ Tàu sang
ta đã đem theo một chú trâu to khoẻ , dữ dằn để xin tỉ thí . Vua ta không muốn bẽ mặt chịu thua ,
nhưng tìm đâu ra một con tương sức . Trạng Quỳnh được mời vào cung để hỏi kế . Trạng liền
hẹn với sứ Tàu chờ cho 3 ngày . Một trận đấu tầm “ quốc tế ” được tổ chức . Sứ Tàu trình “ đấu
sĩ ” của mình giữa sới và ra chiều đắc ý . Đợi mãi mới thấy Quỳnh dắt con nghé còm , dường
như đã bị bỏ đói mấy ngày ra ứng chiến . Khán đài chưa hết ngạc nhiên thì đã thấy nghé ta lao
thẳng vào trâu của sứ , cứ bụng mà thúc lấy , thúc để . Hoá ra nghé đói tưởng được gặp mẹ nên
ra sức tìm nguồn sữa !

Trâu kéo cày , kéo xe ,kéo trục ép mía , kéo guồng nước , trâu còn mua vui cho làng xã .
“Dù ai đi đâu về đâu
Nhớ rằm tháng tám chọi trâu thì về ”
(Ca dao vùng Đồ Sơn )
trâu còn là vật tế thiêng liêng số một từ nội phủ cung vua đến đình làng . Cỗ tam sinh tế
trời đất , tổ tông , có trâu trên hết . Ở Tây Nguyên , vài dân tộc còn giữ tục lễ hội đâm trâu rất
tâm linh , rất hòanh tráng để tạ ơn Giàng , mừng mùa bội thu gọi là Grong Kơpô .
Dân Việt đối đãi với trâu như với người thân
“Trâu ơi ta bảo trâu này …”
và trong cảm thức luân hồi dân Việt còn cố gắng tô vẽ lý lịch của người “ bạn điền ” một
nắng hai sương vớimình bằng câu chuyện kể rằng tiền kiếp của trâu vốn là một vị BỒ TÁT ( ! ) .
 

Hồi đó , đã lâu lắm rồi , hạ giới kêu la vì đói . Thượng đế bèn sai một vị bồ tát đem hai túi hạt
xúông cho người : 1 túi đựng 5 loại hạt là nếp , tẻ , ngô , mì , cao lương , một túi đựng hạt cỏ , và
căn dặn gieo ngũ cốc trước , hạt cỏ sau . Nhưng vị sư lại đãng trí , làm ngược lại . Thế là cỏ tranh
sinh sống với lúa , nên dân đói vẫn hoàn đói . Thượng đế mới sai sứ giáng trần thị sát tình hình ;
té ra là vị sư đã làm sai lời dặn của Thiên Đình . Thượng đế bèn hoá kiếp vị sư thành trâu , và
buộc phải gặm hết cỏ dưới trần gian . Từ đấy trâu ta chỉ ăn cỏ, và ăn rất nhẫn nại đến trong mơ
vẫn phải nhai hoài .
CON TRÂU trong tập tục MỘT SỐ DÂN TỘC ÍT NGƯỜI Ở VIỆT NAM
*Người Mông :Đám ma cần có lợn và trâu hoặc bò để cúng người chết . Trong đời người
đàn ông đều phải cúng báo hiếu cha mẹ một lần , với vật hiến tế là đàn trâu hay bò . Lễ
này gọi là đám “ ma trâu ” , kéo dào 1 ngày và 2 đêm …
*Người Dao : Lễ vật cúng tổ tiên mỗi họ mỗi khác . Trong khi họ Bàn dùng bò , họ
Phùng dùng dê … thì họ Triệu dùng trâu để cúng .
*Người La Chí :Tang lễ theo tục La Chí có giết trâu cúng người chết và đem sọ trâu treo
bên mộ . Lễ vật cúng hồn gia chủ , ngoài các món thịt lợn , chuột chim , cá , còn có da trâu , thịt
trâu luộc và thịt trâu chua ( đã đễ từ 7 – 10 ngày cho lên men ) . Cũng theo tập tục của dân tộc
này , mỗi bản có một nhà cúng bái chung , tại đó khoảng 3 năm có tế bằng trâu một lần , sọ trâu
đều được lưu giữ dưới mái nhà . Hàng năm , khi ăn tết cơm mới ( tháng 8 âm lịch ) người La Chí
gói cơm gạo mới vào lá và cuộn trong cỏ cho trâu ăn trước . Sáng mùng một Tết Nguyên Đán ,
trâu được ăn bánh chưng do chủ nhà cố ý bỏ sót trong lá bánh
*Phụ nữ Gia Rai , Dao , Tống ( thuộc dân tộc Pà thên ) khi có chữa đều kiêng bước qua
dây buộc trâu , vì họ sợ sẽ đẻ khó .
*Người Mnâm ( Thuộc dân tộc Xơ Đăng ): tháng 2 dương lịch mở đầu năm mới với lễ
cúng trâu . Trâu ở đây được dùng để dẫm ruộng trước khi cày . Cả làng nhốt trâu chung một
chuồng . Cửa chuồng được trang trí đẹp , giữa chuồng có chồng cây nêu cao vút có trang trí theo
tập tục . Mỗi năm chuồng được thay một lần và lễ cúng trâu được tổ chức trong dịp này . Mọi
người dự lễ cúng trâu đều cầu mong những điều tốt lành cho làng , cầu thần cho trâu được khoẻ
mạnh , sinh con đàn cháu đống . Sau lễ nghi thức 5, 7 , hoặc 9 rút gióng thả đàn trâu ra khỏi
chuồng mới .
*Người Khơ Mú :Khi cậu chết , cháu rễ tổ chức tang lễ và được hưởng một dùi trâu cúng
.
*Người Thổ :Trong cưới xin , đồ đẫn cưới của nhà trai thường phải có một con trâu.
*Người Lự :Tục cũ quy định nếu gái bỏ chồng sẽ bị phạt một trâu , trai bỏ vợ sẽ bị phạt
một bò .
*Người Sán Chay : Có nhà nghiên cứu nhận thấy ngôi nhà của đồng bào Cao Lan _Sán
Chỉ được mường tượng như con trâu : 4 cột ở giữa nhà là 4 chân , rui mè là xương sườn , đòn nóc
là sống lưng ,thùng cám đặt cạnh chân cột chính ở bên cửa là dạ dày .
*Người Bru-Vân Kiều :Trên đầu đốc nhà có cắm bộ phận hình một chiếc sừng trâu để
trang trí và trừ ma quỷ . Đối với các đôi vợ chồng , chỉ khi tổ chức được lễ “khơi ” thì người mới
thực sự thuộc dòng tộc bên chồng . Lễ này thường có giết trâu và việc trao tặng vật giữa cậu và
vợ chồng người cháu được tiến hành trong lễ đâm trâu này .
*Người Chu Ru :Đám ma thường có mổ thịt trâu hoặc bò . Tang lễ cúng thần Ver ( một
vị thần nhiều quyền phép ngụ ở cây cổ thụ gần làng ), ngoài các đồ thức ăn thức uống còn có
những hình nộm đầu thú đẽo bằng gỗ hay chuối , có thể là hình đầu dê , đầu hổ hoặc đầu trâu …
*Người M’Nông : Trong lễ ướm hỏi , người mai mối của nhà trai đem theo hai ống lồ ô
đựng măng chua và da trâu thái nhỏ . Nếu gia đình nhà gái nhận , nghĩa là đã ưng thuận . Sau đó
đến lễ dạm vợ . Trong các lễ vật nhà trai mang đến nhà gái trong lễ này thường phải có 20-30
ống măng chua và da trâu muối .
*Người Sán Dìu :Bố hoặc mẹ chết , con cái đều phải bò một vòng quanh huyệt , vừa bò
vừa xô đất xuống lấp áo quan . Sau khi mai táng người thân xong , mỗi người cầm một nắm đất
chạy nhanh về , không được ngoái đầu nhìn lại rồi vứt nắm đất đó vào chuồng gà , chuồng lợn ,
chuồng trâu … với hy vọng vật nuôi sẽ sinh sôi phát triển .
*Người Phú Lá: Họ Nhê Xe coi trâu là thuỷ tổ của mình . Điều này được giải thích qua
một truyền thuyết , đại ý : xa xưa ông tổ của người Phù Lá mồ côi từ rất sớm , may nhờ có trâu
cho bú nên đã sống và lớn lên . Chính từ quan niệm này nên , con cháu họ về sau kiêng ăn thịt
trâu để tỏ lòng biết ơn trâu ,
*Người Gia Rai :Trong lễ bỏ mả ( Lễ đoạn tang ) có tục đâm trâu cúng người chết ,
khách mỗi làng đến dự họp thành một đoàn người và mang theo dàn cồng chiêng để tham gia
trình diễn . Kết thúc lễ bỏ mả , mỗi đoàn đều được chia phần gồm một đầu trâu và một đuôi trâu
*Người Cơ Tu :Nhà công cộng ( Gươi ) của dân làng là công trình khang trang , bề thế và
đẹp nhất . Ngôi nhà này được tạc hình đầu trâu trên mặt ván be quanh sàn , vừa để trang trí , vừa
dùng làm bậc lên xuống , cứ mỗi cặp sừng trâu là một bậc .
*Các bộ tộc Thượng ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên ( Tà ôi , Co , Bana , Gia Rai , E
đê , Mạ, MNông …) coi con trâu là một trong những tài sản quý có giá trị cao để đánh giá mức độ
giàu nghèo của từng gia đình . Trâu được dùng làm vật định giá cho những thứ đắt và quý , nhất
là trong khi trao đổi mua bán ( ví dụ : có chiếc ché trị giá hàng chục con trâu , có bộ cồng chiêng
phải đổi bằng 20-30 con trâu ) . Do đó giá trị cao như vậy , nên trong xã hội cổ truyền xứ
Thượng , trâu không phải dùng làm phương tiện kéo xe , cày bừa như ở nhiều nơi khác .
Thượng Giang
 

MỘT SỐ LỄ HỘI TIÊU BIỂU VỀ CON TRÂU

1. TẾT TRÂU
Tết trâu là một tục lệ cổ truyền ở nhiều vùng trong nông thôn nước ta . Ở các vùng
Hoằng Hoá , Nga Sơn ( Thanh Hoá ), Vĩnh Linh ( Quảng Trị ) , trước tết vài hôm , người
ta tìm các thứ cỏ thật ngon , chọn mớ rớm nắng để “ thưởng ” trâu ngày tết . Trâu được
tắm rửa sạch sẽ , chuồng đựơc quét dọn kỹ càng .
Sáng mồng một tết , mỗi con trâu được dán trước trán một lá buà bằng giấy hồng để “ trừ
tà yểm quái ” , xua đuổi vận hạn năm cũ , cầu cho trâu sang năm mới được bình yên vô sự , ăn
no , cày khoẻ . Sau khi cúng “thần chuồng ” , trâu được ăn cổ , được nếm các món bánh chưng ,
bánh gai , thịt ,cá , xôi chè … Và chọn “ ngày tốt lành ”, người ta dắt trâu đi dạo vài vòng để trâu
…thường xuân , đồng thời ươm vai cày cho trâu để “ lấy may”.
Ngày nay , từ khi nông thôn bước vào con đường làm ăn tập thể , tết trâu được tíên hành
có ý thức , vừa đơn giản , vừa bổ ích . Những ngày tết , dù bận rộn đến đâu , ở nhiều nơi như Hà
Nam , Nam Định , Ninh Bình , Thanh Hoá , Hải Dương , Hưng Yên … bà con cũng tranh thủ đi cắt
cỏ tươi về dự trữ , gọi là cỏ “ tết trâu ” . Để tết trâu có thêm hương vị đậm đà , nhiều hợp tác xã
còn trích một phần thóc quỹ đưa về từng nhà nuôi trâu để nấu cơm , nấu cháo cho trâu ăn . Ba
mươi tết , hợp tác xã thành lập một tổ dăm bảy người đi vận động từng gia đình quyên góp cho
trâu ít nhiều cơm , cám … Sau đó đem chia đều cho trâu ăn . Trong ba ngày tết , trâu còn được
thưởng thức cả “ chè kho ”. “ Chè kho ” giản đơn , chỉ gồm có dây và củ khoai lang băm nhỏ ,
nấu lẫn với cám gạo thật nhừ , thật sánh , bỏ thêm ít muối , làm cho trâu ăn vừa đậm đà , vừa
ngon miệng . Sau mỗi bữa ăn , trâu còn được uống nứơc chè xanh hoặc úông nước nóng .
Có nhiều nơi , vào mồng hai tết , hơp tác xã mở hội thi trâu . Con nào béo khoẻ hơn thì
trên sừng được mang cờ đỏ và được hưởng phần bánh chưng , cơm trắng , cỏ non …nhiều hơn .
Với con thắng cuộc , hơp tác xã cũng không để thiệt thòi về … vật chất , chỉ riêng người chủ chăn
dắt nó là thẹn thùng vì trâu mang cờ xanh về nhà mình trong ngày xuân mới .

2. HỘI TRỌI TRÂU ĐỒ SƠN
Nhắc đến Đồ Sơn , người ta thường nhắc đến một bãi biển đẹp , một nơi nghĩ mát lý tưởng
. Nhưng Đồ Sơn còn có một ngày lễ hội độc đáo có một không hai trên đất nước ta. Đó là hội
chọi trâu :
Dù ai buôn đâu bán đâu
Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Mồng mười tháng tám cũng về chọi trâu
( ca dao )
Tương truyền từ thưở xa xưa , khi lớp dân cư đầu tiên đến khai phá vùng đất này , vào
một đêm tháng tám , trên mặt biển bỗng nổi lên một vừng hào quang rực rỡ . Giữa vầng hào
quang ấy là một cặp trâu thần đang chọi nhau quyết liệt . Hình ảnh ấy hiện ra một lúc , kịp cho
mọi người trên bờ biển trông thấy , sau đó biến mất . Lúc ấy trời quang mây tạnh , bỗng nhiên
mây đen kéo tới rồi một cơn mưa ập xuống tưới nhuần mặt đất . Từ đó hàng năm , người dân Đồ
Sơn tổ chức chọi trâu vào ngày 10-8 để cầu mong mưa thuận gió hoà . Đặc biệt hàng năm đúng
vào ngày chọi trâu , thường có mưa .
Về mưa tiếp trâu thần từ dưới nước nổi lên chọi nhau , ta cũng đọc trong truyện kể về Yết
Kiều . Nhà ông ở làng Hạ Bì bên bờ biển làm nghề đánh cá . Một hôm , ông đi dọc bờ biển về
làng bỗng thấy hai con trâu ghì sừng chọi nhau dưới bóng trăng khuya . Ông cầm đòn gánh xông
vào phang mạnh mấy cái , cặp trâu chạy xuống biển rồi biến mất . Thấy có cái lông trâu còn
dính vào đòn gánh , Yết Kiêu bỏ vào miệng nuốt . Từ đó ông có sức khoẻ hơn người , đặc biệt có
tài bơi lặn sau này , ông theo làm gia tướng của tướng Trần Hưng Đạo và lập nhiều công lớn .
Ông thường lặn xuống dưới thuyền địch , đục thủng thuyền cho chìm , làm cho quân địch vô cùng
khiếp sợ .

Mô típ gặp trâu thần nổi lên chọi nhau , phải chăng phản ánh tín ngưỡng dân gian của một
vùng đất ven sông ven biển , lấy vật tổ ( Tô tem ) là con trâu thần trong lịch sữ xa xưa của dân
tộc ta ? Trâu là con vật gần gủi , thân thiết với con người : “ Trâu ơi ta bảo trâu này , trâu ra
ngoài ruộng trâu cày với ta ” đối với nhà nông “ con trâu là đầu cơ nghiệp .” Nếu so với các
động vật vùng đồng bằng thì trâu là con vật to lớn nhất . Với tính hùng dũng pha chút hoang dã ,
trâu tượng trưng cho sức mạnh huyền bí , sức mạnh bản năng của loài vật. Phải chăng vì thế mà
có Mô Típ trâu thần chọi nhau , rồi thành một ngày hội độc đáo ở vùng đất này ?
Để có trâu chọi ngay từ giêng hai các làng đã cử người đi khắp nơi , vào Nghệ An , Thanh
Hoá , sang Hà Nam , Thái Bình , Hải Dương , Hưng Yên hoặc ngược lên Hà Giang , Tuyên Quan
, Bắc Cạn , Thái Nguyên tìm mua trâu . Tiêu chuẩn chọn trâu chọi được đúc rúc kinh nghiệm từ
xa xưa . Trước hết , phải nhìn tổng thể . Trâu phải trườn thân , ức rộng , dáng vẽ hùng dũng . Sau
đó mới đi vào chi tiết , mi mắt trâu phải dày , mắt đen , trồng mắt đỏ . Sừng trâu to bản , dưới
góc sừng vuông , thon nhọn về đầu sừng . Khoảng cách giữa hai đầu sừng rộng vừa phải ( sừng
cánh cung ) cổ trâu tròn , khỏe , dài , thuôn nhỏ về phía đầu ( gọi là cổ cò ) . Nếu cổ trâu to ,
ngắn và trâu chậm , ít hoạt động . Đầu trâu có 3 khoấy , một khoáy ở trên đỉnh , 3 khoáy ở hai
bên trán ( gọi là tam tinh ) . Chân trâu ngắn mập , đầu gối có lông dài ( tròng mắt đỏ , đầu gối có
lông dài là đặc điểm của trâu rừng mà con trâu có thừa hưởng được trong gien di truyền ) . Khi
trâu nhai lại không sùi bọt mép ….

Khi chọn được con trâu đạt tiêu chuẩn , người ta mua về , giao cho một gia đình chăn dắt .
Việc chăm sóc trâu cũng rất công phu . Cỏ cho trâu là loại cỏ non , có trộn cám . Nước úông phải
sạch , tinh khiết ( thường lấy nước từ suối Rồng ở trong vùng cho trâu uống ) . Không cho trâu
tiếp xúc với trâu cày , cốt để làm tăng năng bản chất hoang dã cô độc vốn có ở trâu . Vừa chăm
sóc , người ta huấn luyện cho trâu quen trọi , quen tiếng trống mõ hò reo ngày lễ hội . Vào tháng
5-6 có đợt thi đấu loại để loại bỏ bớt những con trâu yếu , trâu nhát , chỉ để lại những con dũng
mãnh .

Có thể bạn đã xem trọi cá, trọi chim , trọi gà …. Nhưng dù xem trọi gì cũng không hồi hộp
, hấp dẫn và đầy phấn khích với sự giao tranh quyết liệt như trọi trâu . Vào ngày hội trọi trâu ,
người ta chuẩn bị sới sẵn . Đó là một bãi rộng , bằng phẳng , xung quanh có dựng các gióng tre
ngăn cách để bảo đảm an toàn cho người xem . Theo hiệu lệnh , từng cặp trâu đã đánh số sẵn
được dắt vào sới . Hai con trâu nhìn nhau rồi bất thần lao như tên bắn vào địch thủ với một sức
mạnh kinh khủng . Có con chịu không nổi cú hút đầu tiên này , bị rạn xương đầu và bỏ chạy .

Tuy nhiên đa số các cặp trâu đều giao đấu rất quyết liệt , chúng ghìm nhau , lừa miếng , con nào
cũng muốn cúi thật sát đất , dùng sừng húc vào ức khóa vào cổ đối thủ mà xốc , mà xoáy . Có
những cặp trâu trọi đến hàng tiếng đồng hồ không phân thắng bại . Ngày hội trọi trâu thường có
mưa lất phất. Trong cảnh mưa , gió , tiếng người hò reo và tiếng trống hối thúc ,các cặp trâu càng
say đòn . Có một điều đặc biệt là các cặp trâu trọi rất mãnh liệt ,nhưng dù các gióng tre ngăn
cách được làm rất sơ sài , chỉ cần húc nhẹ là gãy nhưng trâu không bao giờ xông vào gióng để
gây thương tích cho người . Chưa bao giờ có người chết hoặc bị thương vì xem trọi trâu . Con trâu
của ta rất hiền đối với người . Trò trọi trâu của ta cũng khác xa với trò đấu bò tót của Tây Ban

Nha , tuy gây cảm giác mạnh nhưng chỉ cần sơ suất một tý là có thể chết người . Bò tót khi quá
phấn khích còn có thể nhảy qua tường chắn của sân đấu , đuổi theo người .
Xem trọi trâu , ta còn được chứng kiến tài nhanh nhẹn của những người bắt giữ trâu . Khi
một con trâu đã thua bỏ chạy , con trâu thắng cuộc lồng lên đuổi theo . Người bắt trâu chạy theo
con thắng cuộc , phải làm sao dùng tay giữ được mũi của nó để tách hai con trâu ra ( trước khi
trọi , ngừoi ta đã rút bỏ sẹo trâu để trâu khỏi vướng . ) . Công việc này đòi hỏi phải hết sức
nhanh nhẹn , khéo léo và không kém phần gan dạ , dũng cảm . Trâu thắng cuộc được xếp nhất ,
nhì , ba , các làng có trâu thắng cuộc được nhận giải thưởng . Tuy nhiên , dù trâu thắng hay thua ,
người ta đều đem làm thịt để tế thần , xong chia cho mọi nhà . Đầu năm sau , người ta lại đi tìm
mua lứa trâu khác , chuẩn bị cho ngày hội năm tới .

Trong một thời gian dài , hội trọi trâu Đồ Sơn bị bỏ . Những năm gần đây , thời kinh tế mở
cửa , các lễ hội dân gian dần dần được khôi phục , hội trọi trâu Đồ Sơn cũng nằm trong số đó .
Trọi trâu , một tục lệ cổ truyền trong lễ hội truyền thống ở Đồ Sơn , một nét độc đáo có một
không hai trên đất nước ta . Ngày lễ hôi , ngươi người nô nức như có một chất men say . Được
sống những giây phút sảng khoái thoải mái , hồi hộp và hấp dẫn , tim ta như đập mạnh hơn , máu
ta như chảy nhanh hơn trong huyết quản . Trong không khí hội hè , được hoà đồng giữa niềm vui
đồng loại , ta như thấy gắn bó hơn với cộng đồng , yêu thêm nhiều mảnh đất của cha ông đã khai
phá . Và đến khi hết hội trở về với công việc thường ngày , ta cảm thấy tinh thần phấn chấn hơn ,
vui tươi và yêu đời hơn .
Hội trọi trâu Đồ Sơn là một ngày hội đẹp , thu hút rất đông nhân dân quanh vùng và cả
khách thập phương
PHAN DUY KHA


3.CON TRÂU TRONG ĐỜI SỐNG CỦA ĐỒNG BÀO THÁI
Người Thái vốn là cư dân làm nông nghiệp lúa nước . Chính vì thế , con trâu đóng một
vai trò rất quan trọng trong sản xuất và đời sống kinh tế của họ . Nếu như ở người kinh , tầm
quan trọng của con trâu được đúc kết qua câu tục ngữ “Con trâu là đầu cơ nghiệp ” , thì ở người
Thái cũng có một câu tục ngữ tương tự là : “con trâu là nền nhà ”(tô quai bên tại hương ) . “Tại ”
có nghỉa là đuôi lái của chiếc thuyền đuôi én . Con thuyền muốn lướt sóng , lên xuống thác
ghềnh an toàn phải nhờ người điều khiển ngồi phía sau . Cũng vậy, ngôi nhà muốn vững chãi ,
lâu bền , trước hết phải có cái nền thật vững chắc . Sự so sánh con trâu – tại – nền thật có ý
nghĩa sâu xa , tuy còn có phần mộc mạc .

Cũng như ở nhiều dân tộc khác , việc nuôi trâu của người Thái trước hết là nhằm thoả
mãn nhu cầu về sức kéo , cày bưà , sau nửa là lấy phân bón ruộng . Thật vậy , ngoài việc cảm
nhận cày bừa ruộng , vườn , trâu còn được sử dụng để kéo gổ , tre , nứa phục phụ cho nhu cầu
thường nhật . Đối với người thái , con trâu còn là một tiêu chuẩn để đánh giá sự nghèo –giàu
trong xã hội . Con trâu cũng là sản phẩm hàng hoá để mua bán , trao đổi giữa các vùng , người
Thái cho rằng nếu một giá đình nào mà phải bán đến cả con trâu cuối cùng thì có nghĩa là đánh
dấu sự lụn bại của gia đình đó . Bởi vậy , trong mọi trường hợp , bao giờ họ cũng quết giữ cho
được một con trâu . Một câu tục ngữ khác của người Thái cũng rất hay khi nói về tầm quan trọng
và tính hiệu quả của con trâu : “Đi buôn 3 năm không bằng nuôi 3 con trâu cái ” (Pay cạ xam pi
bỏ lừa hi xam mẹ ) . Đây cũng là điều minh chứng cho việc từ những năm 1900trở về trước , ở
vùng Thái rất ít chợ phiên .

Từ tầm quan trọng của trâu , người Thái cũng đem nó vào trong các nghi lễ , tín ngưỡng
trong gia đình . Hàng năm , khi tết đến , đồng bào thường cho trâu ăn bánh chưng , lá dong …Con
trâu còn được sử dụng vào mục đích tôn giáo , là lễ vật cúng tế trong các các đáng nhà gìau ,
chức dịch hoặc các bậc cao niên và nhất là trong các dịp cúng bái , cúng mường để tạ lễ trời đất
cầu yên cho dân trong bản trong mường .

4 CON TRÂU TRONG NGHI LỄ CỦA DÂN TỘC SÁN CHAY
Trong nghi lễ cổ của dân tộc Sán Chay , con trâu được xen như bậc thần linh “thần linh
nhân từ ” , bởi trâu luôn đem hạnh phúc đến với mỗi con người , dòng tộc . Chính vì vậy trong : “
tục ma chay ” của người Sán Chay xưa có thêm mục “cúng trâu chết ”.
Theo lệ xưa , những con trâu già qua đời tại đâu , người ta để nguyên xác trâu tại đó rồi
về đón thầy mo đến “ tính giờ” mở lể cúng . Theo lệ , chủ nhà phải mổ gà , làm cơm xôi để thầy
mo cúng trước khi đưa trâu đến nhà mổ .Mâm lễ gồm một con gà trống thiến to đã mổ moi sạch ,
lột chính và có bốn bát xôi đầy , trên mỗi bát đặt một quả trứng sống với ý nghĩa con trâu chết
chủ nhân sẽ có thêm bốn con trâu sau này ngoài ra còn nhiều bạc mã,hương rượu giấy màu trang
trí . Mục đích của lễ cúng trâu là nhằm ghi nhớ công lao những năm tháng trâu lao động vất vả
và đối với gia chủ . Khi lễ cúng tiến hành xong những thanh niên khoẻ trong làng chặt tre hoặc
gỗ xếp thành kiệu đủ 8 người khiêng rồi đưa xác con trâu đi chôn cất thành đống mồ cao 2m
rộng 3m dài 5m . Chủ nhân sẽ là người thắp nén hương cuối cùng lên mộ trâu trước khi ra về .
Cứ theo lệ hàng năm đến ngày 30 tết nguyên đán chủ nhân lại thắp hương phát mã đến hết ngày
15 tháng giêng âm lịch để mời linh hồn những con trâu chết về ăn tết cùng chủ nhân của nó ,.
Do đó việc cúng trâu chết ngoài trả công cho con trâu còn có ý nghĩa lớn hơn đối với gia chủ .
Bởi theo quan niệm của người sáu chay nếu gia chủ làm tốt việc này sẽ gặp nhiều may mắn .
Ngày nay cuộc sống mới văn minh tiến bộ đã đến các bản làng của đồng bào, nên tục
cúng trâu chỉ còn lại ở một ít bản làng vùng sâu vùng xa của đồng bào dân tộc sáu chay . Tuy
nhiên việc thắp hương ngay tại cửa chuồng để thờ trâu chết trong những ngày tết nguyên đán
vẫn còn là nét đẹp truyền thống rất đáng lưu giữ trong nghi lễ ngày tết của dân tộc sáu chay .
ÂU VĂN VƯỢNG

5.LỄ ĐÂM TRÂU TRONG DỊP TẾT CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI TÂY NGUYÊN
Xa xưa con người quan niệm rằng : “ Thần tạo ra mọi cái . Do đó con người phải dành
cho thần một phần đất trồng cây “Rừng Giàng ”, và phải cúng Giàng những sản phẩm đầu tiên
như : bó lúa đầu tiên , vò rượu đầu tiên , miếng thịt đầu tiên ….Việc sát sinh trở thành một nghi lễ
bắt buột một biểu thị tinh thần trung thành với giàng ”.
Nghi lễ còn dự kiến một sự sát sinh đặc biệt đối với sự xảy ra trong gia đình và sự canh
tác . Khi có viêc sinh đẻ, cưới xin bệnh tật ma chay chia ly hội họp đều sát sinh . Còn có sát sinh
khi cày bừa gieo hạt khi lúa trổ bông khi mùa màng khi cất lúa vào kho khi tết đến khi làm xong
đồng án . Việc sát sinh nhắc đi nhắc lại khớp với việc với nhịp điệu trong canh tác và cuộc sống cộng đồng .
 

Việc giết trâu là một cử chỉ thờ cúng trước bản . Những việc sát sinh khác (lợn, gà, dê)
chỉ là sự mô phỏng ở mức độ thu hẹp . Con trâu vừa là nhân vật truyền thống vừa là nhân vật
của muôn làng nhất là khi có lễ lớn nó lại là đại biểu cho gia đình là vật dâng hiến cho cuộc
sống . Lúc sắp bị giết nó lại được chăm sóc . Họ đánh đồng la thổi kèn khi con trâu bị giết . Giao
chiến bên cọc nêu vào con trâu , cuộc giao chiến nghi lễ . Con trâu sứ giả chịu trách nhiệm trình
lên các thần sắp tiếp nhận linh hồn nó những điều thỉnh cầu than phiền của gia chủ mình . Khi
giết xong thịt được mang cúng thần sau đó được phân chia cho bữa ăn tập thể .
Cho đến nay vào các dịp tết của dân tộc , lễ đâm trâu vẫn còn phổ biến ở các dân tộc
thiểu số vùng dọc trường sơn , Tây Nguyên . Đăc biệt ở các nhóm người Mạ K’ho, Chu ru (Lâm
Đồng ) , Ê Đê , Ba Nang , Muông (Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum) .
Ở mỗi nhóm tộc người hình thức cũng có nhiều nét khác nhau các cuộc giao chiến nghi lễ
cũng khác nhau và cây cũng có kiểu riêng của mỗi dân tộc . Người dân ở Lâm Đồng gọi lễ đâm
trâu là lễ lớn được tổ chức hàng năm vào dịp tết của dân tộc sau tết Nguyên Đán của người Kinh
 

Bắt đầu sắp tổ chức lấy gạo giã nghệ trộn gạo thành màu vàng để nấu cơm cúng mời anh
em khác để đi làm lễ khỏi gặp tai nạn . Gia đình mời thêm 10-12 người khác , ở luôn trong nhà
hàng năm chỉ để chuẩn bị cho việc đâm trâu . Khi mời họ họ tới từng nhà biếu người được mời
một choé rượu nhỏ , những người theo người theo về nhà chủ đi làm giúp , bao giờ đâm trâu ăn
uống xong mới về . Con gái thì nấu cơm nước con trai thì vào rừng chặt cây .
 

Chặt cây nêu càng cao càng tốt (thường họ chặt cây thông, cây gạo) . Chặt cây nêu rồi
làm nhiều bong bóng rối, các thanh lồ lô lắc kêu cùng các hoa văn nhuộm màu đỏ , đeo trên cây
nêu . Họ cũng đeo lên cây nêu các nhạc cụ như sáo gió thổi vu vi ………Dưới cột nêu làm bàn thờ
để rượu , choé quý để cúng . Chân cột nêu để đầy lúa gọi là kho lúa nhỏ ……..Làm ống “Dinh
Pách” gồm 6 ống lồ ô lớn nhỏ , cho nam đánh đồng là mỗi người một ống rượu , làm dây cột
quanh cổ trâu để dây để khít cổ trâu và dây xỏ mũi trâu . Còn “Đinharồm ” treo trên sừng làm
đẹp cho con trâu trong ngày tế lễ . Họ làm “kà nâng ” giống như chuồng trâu ngay trước cửa nhà
có tranh trí bằng lồ ô quanh chuồng . Cột nêu được vót thật láng và trên cây nêu được trang trí
có hơn 10 kiểu hoa văn . Màu chủ yếu là đỏ và đen , màu được tự chế bằng các loại vỏ cây nên
thường có hình tượng con vượn rừng , hình con ruồi và con phượng hoàng đang bay…….
Sau khi chuẩn bị xong , họ mời toàn buôn làng mình và buôn làng khác tới .
Lễ đâm trâu của gia đình thì giết một con . Còn của cả buôn làng thì có khi giết tới 11
con .
 

Ngày lễ trai tráng các làng được mời phải giao chiến nghi lễ với trai tráng chủ nhà . Họ
dùng lao xà gạt …….tấn công cho đến khi vòng qua bếp chủ thì cuộc lễ đâm trâu bắt đầu . Tiếng
đồng la được nổi lên 2-3 đêm trước lễ hội , khi lễ hội bắt đầu : chủ nhà đi đầu , vợ đi sau sau đó
đoàn người thổi kèn , sáo , đánh đồng la (đôi khi đệm trống ) . Tất cả buôn múa xung quanh cây
nêu có một con trâu . Ban lễ múa, trai tráng trong làng nhảy nhót lấy xà gạt trêu chọc cho con
trâu phát khùng, đâm nhiều nhát nhỏ chảy máu . Sau đó ông chủ nhà dùng xà lao đâm một nhát
vào tim .Con trâu quỵ xuống , một thanh niên dùng xà gạt nghi lễ chặt vào chân sau .
Sau đó họ lột da lấy miếng thịt gần tim và máu lên cúng , đốt những đống lửa xả thịt
nướng ăn và uống rượu cần . Múa hát, đánh đồng la thổi kèn môi, sáo và đàn ồ lô , đây cũng là
dịp trai gái trao vòng , tặng nhẫn hứa hẹn nhau .
Và một năm mới lại bắt đầu với những mùa rẫy , những cuộc săn bắt tập thể , với những
cuộc hẹn hò , những đám cưới . Và đêm đó quanh bếp lửa bập bùng già làng lại ngồi kể cho
khách và con cháu mình những chuyện cổ tích hàng năm .
ĐINH THỊ NGA
 

6.CON TRÂU VÀ PHONG TỤC CỦA NGƯỜI CHĂM
Đối với đồng bào chăm ở Ninh Thuận , Bình Thuận , con trâu là loài vật không thể thiếu
trong các lễ nghi phong tục, là lễ vật dâng cúng thần linh , ông bà cha mẹ thu hút sự chăm lo
giúp sức của người thân và bà con chòm xóm .
Cứ 7 năm một lần , vào tháng 7 lịch Chăm một con trâu trắng dùng làm lễ vật được đem
dâng cúng với nghi lễ linh đình tại chân núi đá trắng (núi giang Patao ) thuộc làng Như Bình ,
Phước Thái , Ninh , Phước (Ninh Thuận) . Ngày nay lễ đâm trâu vẫn còn được một số gia đình
Balamôn thực hiện . Khi họ đã khuấn nguyện và có đủ điều kiện về vật chất . Đám tang đồng
bào Chăm gọi là Khathì , Khapào thường phải cúng một hoặc hai trâu đối với đám một Khathì .
Đám tang các vị chức sắc hay quyền quý giàu có trong làng thì 7 Khathì, trong đó có ít nhất 4
Khathì Pahi có từ một đến hai trâu cho mỗi lần tổ chức . Một số gia đình Bàni giàu có còn lựa
chọn trước và chăm sóc rất cẩn thận con trâu dành để làm đám cho cha mẹ ông bà khi lâm
chung . Với ý nghĩa như vậy Chăm về truyền thống hiếu thảo , tình làng nghĩa xóm . Họ có thể
đem cả cơ nghiệp để dâng cúng long trọng cho cha mẹ , ông bà trong sự giúp đỡ , chứng kiến
của cả cộng đồng .
 

7.HỘI LỄ “ĂN TRÂU ” CỦA NGƯỜI GIẺ – TÂY NGUYÊN
Hội lễ cổ truyền lớn , thiêng liêng quan trọng nhất của người Giẻ , một dân tộc ít người
sống ở các tỉnh Gia Lai – Kông Tum , Quảng Nam – Đà Nẵng là hội Khun Jo Kah R’ Bo (uống
rượu ăn trâu ) thường tiến hành vào mùa xuân ở Tây Nguyên . Đó cũng là hội lễ dài nhất (7
ngày ) , phức tạp nhất gần 75 nghi lễ và chặt chẽ với đỉnh cao là lễ đâm trâu và ăn trâu . Nhứng
cột đâm trâu chính là biểu tượng của cây lúa – cây vũ trụ được trang trí công phu đẹp đẽ và chôn
đặt trước ngôi nhà làng : trung tâm làng , khuôn mặt và tâm hồn làng . Đó là những cây tre ngọn
dài cong vút mang những nan tre thể hiện thân và hạt lúa . Trâu – lúa với những người luôn gắn
bó , bởi con người đã thuần hoá lúa cùng với trâu để con người sống cao đẹp hơn , trâu với
người cùng làm ra lúa và cùng được lúa nuôi sống . Trâu chết nhưng tiết trâu tưới trên đất vào
gốc lúa là mơ ước : mưa sẽ tưới thấm đất – lúa . Tiết ấy được chấm xoa vào trán , ngực cánh tay
mối người , biểu tượng của niền tin,
 

Trước khi đâm , ăn trâu một cây gạo được trồng giữa cái cột đâm trâu . Đó là loại cây có
sức sống kỳ diệu , bén đất là vươn xanh . Hoa gạo (hoa Plang ) đã từng được coi là một biểu
tượng cho vẻ đẹp tình yêu , lòng chung thuỷ của cô gái Tây Nguyên . Còn ở đây cây gạo đó là
một bằng chứng sống động , cho sự phát triển liên tục của vũ trụ , là kỷ niệm nhiều đời cho một
lễ hội , đánh dấu cho một năm sống của cộng đồng .
Sau lễ hội đâm trâu với đôi sừng sức mạnh vẻ đẹp của trâu được trang trí đầy những sắc
màu hoa văn rực rỡ , nổi bật ở giữa trán hình mặt trời hồi quang của mặt trời trên trống đồng
Đông Sơn cổ kính .
Ngày nay cuộc sống lao động của người Giẻ đổi mới sẽ kéo theo sự đổi mới của lễ hội
“ăn trâu” của đồng bào cần và có thể phát triển thành hội lễ mừng năm mới , mừng năm mới dịp
thể hiện phát triển những giá trị trung hoa của nghệ thuật dân gian Giẻ : điêu khắc thơ ca nhảy
múa ……..Sau hội lễ , con người không chỉ trồng một cây gạo mà sẽ trồng nhiều cây gạo lúa cà
phê……Hội lễ ăn trâu sẽ đẹp hơn nhiều ý nghĩa hơn khi gắn với tết trồng cây hội trồng lúa trồng
rừng làm xanh mãi quê hương người Giẻ , xanh mãi Tây Nguyên .
 

8.LỄ HỘI ĐÂM TRÂU CỦA NGƯỜI BANA
Người BaNa gọi lễ hội đâm trâu là Koh Kpô (nghĩa là đâm trâu ) hay Gro ong Tơnơ (hội
đâm trâu mừng sức khoẻ ) . Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng lễ đâm trâu là biểu hiện của tục
hiến sinh : Hiến các tù binh trong lễ cúng các thần sau các cuộc chiến tranh xung đột giữa các
tộc người trong vùng và cũng là biểu hiện của tinh thượng võ . Lễ hội này được tổ chức trong 3
ngày , tại khu vực, trước nhà rông vào những dịp vui như khánh thành nhà Rông mới mừng thắng
lợi về quân sự hay sản xuất , mừng già làng khỏi đau ốm và chào đón xuân về . Lễ thường được
tổ chức vào khoảng trung tuần tháng Chạp đến tháng 3 âm lịch
Già làng chỉ huy trai tráng dựng Gưng để mở đầu cho hội đâm trâu . Gưng là nơi các thần
linh để về để chứng kiến lễ cúng . Gưng gồm 4 cột dài khoảng 3 m , đường kính khoảng 20cm có
trang trí thành những khoanh màu đỏ , đen ,xanh . Bốn cột khác nhỏ hơn , nhưng cũng trang trí
sặc sỡ . Một cây dầu cao vút làm cây nêu trang trí những đoạn dây tết thành vòng treo nôi với
nhau . Mỗi đâu dây cũng treo một hình tam giác cũng đan bằng lạt tre , nan vần cùng nhiều ống
nứa , mỗi khi gió lướt qua phát ra những âm thanh lạ , vui tai . Ngoài ra còn chôn cây Plang (cây
gạo) hoặc cây Xmuôn là những cây có sức sống mãnh liệt để buộc trâu .
Ngày thứ nhất Già làng phân công người buộc choé rược vào các cây Knưng trong nhà
rông , buộc túi thiêng lên ngọn nêu chính , buột trâu hiến sinh vào cột Klang Kpô . Tiếp theo là
những sinh hoạt mang tính văn nghệ vừa mang tính nghi lễ : múa gậy “long dech” trong tiếng
trống tiếng chiêng Hđuk với những bài dành riêng cho lễ hội đâm trâu .
Lễ hiến tế bắt đầu : Trong tiếng trống trầm hùng , một nhóm từ 5-7 cụ già , trang phục
ngày lễ bước ra rước đầu Gưng khấn thần . Bài khấn kết thúc già làng cầm gươm đuổi theo con
trâu và chém vào mông bên phải con vật hiến tế . Tiếng hú nổi lên , dàn cồng chiêng biểu diễn
quanh dàn Gưng đi ngược chiều theo kim đồng hồ .
Ngày thứ hai trong tiếng chiêng tiếng trống rộn ràng , một số trai làng cầm gươm đuổi
theo trâu . Một chàng trai tiến lên đâm một nhát vào tim con vật . Một già làng cầm bát đồng
hứng máu trâu trong tiếng hú của người dự . Các dàn chiêng vừa tấu vừa múa Soang . Các chàng
trai bắn tên vào con vật lúc nó đang chạy quanh Gưng rồi nhổ tên cắm quanh một nêu chính .
Con trâu được xẻ thịt chia cho các bếp ở cộng đồng .
Tiếp đó Già làng chia thịt làm 5 nhóm lên bàn thờ cha dang, vẩy rượu hoà

Up
Down

Copyright © 2007 TreToday.net