
CHƯƠNG VI
1. Tử viết : “ Càn, Khôn, kì dịch chi môn da? Càn dương vật giả, Khôn am vật dã. Âm dương hợp đức nhi cương nhu hữu thể, dĩ thể thiên địa chi soạn, di thông thần minh chi đức”.
Dịch : thầy Khổng nói : “Càn, Khôn là cửa của dịch chăng? Càn đại biểu những vật thuộc về dương, Khôn đại biểu những vật thuộc về âm. Đức (tính cách) của âm dương hợp với nhau mà hào dương và hào nhu mới có thực thể, nhân đó mà suy trắc được công việc của trời đất và thông cảm được đức của thần minh!”
2. Kì xưng danh dã tạp nhi bất việt. Ư kê kì loại, kì suy thế chi ý da?
Dịch : tên của các quẻ tuy lộn xộn nhưng ý nghĩa (?) không trật ra ngoài (sự biến hóa của âm dương) khi xét về lời đoán của mỗi quẻ thì dịch là mối suy tư (của thánh nhân) trong một đời loạn chăng? Tức của văn vương ở thời vua Trụ
Chú thích : tiết này rất tối nghĩa, các sách đều chấm câu ở sau chữ “việt”. Duy Phan Bội Châu là cho câu đi liền tới chữ “loại” rồi sau mới chấm. Chữ “Loại” mỗi nhà hiểu một khác : Phan Bội Châu không dịch, Chu Hi không giảng J.Legge hiểu là bản chất và cách thức của các lời đoán R.Wilhem hiểu là hoàn cảnh.
3. Phù dịch chương vãng nhi sát lai, nhi vi hiển (1) triển u khai nhi (2) đáng danh biện vật, chính ngôn, đoán từ, tắc bị hĩ
Dịch : dịch làm rõ cái đã qua mà xét cái sắp tới, làm sáng tỏ cái kín đáo,mở cái bí mật. (Văn vương) khai triển hình tượng (hay ý nghĩa) phân biệt mọi vật đúng với tên của chúng ; ngôn được chính, lời đoán được định rồi, thế là (kinh dịch) đầy đủ.
Chú thích : (1) ba chữ “nhi vi hiển”,ngỡ là lầm ; “vi hiển nhi (triển u) thì phải hơn.
(2) Chữ nhi ở đây cũng ngờ là lầm
Vì hai chỗ đáng ngờ như vậy nên tiết này khó hiểu, mà phan bội châu không dịch. Chúng tôi dịch theo J.Legge mà J.Legge cũng chỉ đoán phỏng thôi.
4. Kì xưng danh đã tiểu, kì thủ loại dã dại, kì chỉ viên, kì từ văn , từ ngôn khúc nhi trúng,kì sự tứ nhi ẩn, nhân nhị dĩ tế dân hạnh, dĩ minh thất đắc chi báo.
Dịch : về sự đặt tên trong dịch thì tới cả những vật rất nhỏ (hay tầm thường) mà bao gồm cả những loại rất lớn (như thiên địa, âm dương, vũ trụ) (1) ý nghĩa của dịch sâu xa mà lời thì văn vẻ, lời giảng ngoắc ngoéo mà đúng sự việc, trình bày rõ ràng mà thâm điệu , u uẩn, nhàn lòng dân có điều nghi ngờ (nhị) mà giúp dân về đức hạnh, (bằng cách) tỏ cho dân thấy rõ sự báo ứng về việc hỏng hay được (tức hậu quả của hành động tốt hay xấu)
Chú thích : (1) câu đầu này Wilhem dịch là : những tên (để gọi các quẻ) có vẻ không quan trọng nhưng khả năng áp dụng thì lớn ; J.Legge dịch là : tên gọi chỉ là vấn đề nhỏ mọn, nhưng các loại sự vật chứa trong những tên đó thì rộng lớn.
(Chương này tối nghĩa, có chỗ chép lầm, mà ý nghĩa cũng không có gì sâu sắc , chỉ là xét chung về bản thể, công dụng của kinh dịch)
CHƯƠNG VII
1. Dịch chi hưng dã, kì ư trung cổ hồ? Tác dịch giả kì hữu ưu hoạn hồ?
Dịch : đạo dịch hưng thịnh lên ở thời trung cổ chăng? Người làm dịch có điều ưu tư lo lắng lắm đấy chăng?
Chú thích : tiết này ám chỉ thời văn vương. Văn vương bị trụ giam ở ngục Dữu lí mà đặt ra Thóan từ cho mỗi quẻ
2. Thị cố , Lí, đức chi cơ dã ; khiêm, đức chi bính dã ; phục đức chi bản dã ; hằng, đức chi cố dã. Tổn, đức chi tu dã; Ích, đức chi dụ dã ; Khốn đức chi biên dã ; tỉnh, đức chi địa dã ; tốn, đức chi chế dã.
Dịch : quẻ Lí là cái nền của đức , quẻ Khiêm là cái cán của đức ; quẻ phục là gốc của đức ; quẻ Hằng là cái bền vững của đức ; quẻ Tốn là sự trau dồi đức ; quẻ Ích là sự nẩy nở đầy đủ của đức ; quẻ Khốn là để nghiệm xem đức cao hay thấp ; quẻ Tỉnh là sự dày dặn của đức ; quẻ Tốn la sự chế ngự (cho nó thuần phục, linh hoạt)
Chú thích : tiết này nói về chín quẻ giúp cho người ta tu đức.
Lí là lễ (coi phần dịch 64 quẻ) cung kính, cẩn thận, cho nên gọi là nền của đức. Khiêm là khiêm tốn. Phục là trở lại, hoàn phục thiên lý. Hằng là giữ lòng cho bền, không biến đổi. Tốn là bớt lòng dục, lòng giận. Ích là làm cho đức tăng tiến. Khốn là gặp nghịch cảnh, mới kiểm điểm được đức của mình. Tỉnh là giếng hơi nước không cạn, cũng không tràn, mọi người đều lại lấy nước, ý nói công dụng đầy khắp, dày dặn. Tốn là thuận theo lẽ phải mà chế ngự đức.
3. Lí, hòa nhi chí ; Khiêm tốn nhi quang ; phục, tiểu nhi biên ư vật ; Hằng, tạp nhi bất yếm ; Tốn, tiênnan nhi hậu dị ; Ích, trưởng dụ nhi bất thiết khôn, cùng nhi thông ; Tỉnh, cư kì sở nhi thiên ; Tốn, xứng nhi ẩn.
Dịch : Lí, thi ôn hòa mà (đạo nghĩa) tới cực điểm ; Khiêm (tự hạ) thì lại được tôn trọng mà vẻ vang ; Phục tuy nhỏ (vì 1 hào dương ở dưới 5 hào âm) nhưng gì cũng biện biệt được được ( vì dương là ánh sáng, âm là bóng tối, một dương ở âm như một ngọn đèn trong bóng tối. Hằng thì ở thời phức tạp mà vẫn giữ được đức chứ không chán; Tốn (bớt tư dục) thì mới đầu tay khổ sau (thành thói quen) hóa dễ ; Ích (là thêm) thì nảy nở thêm (một cách tự nhiên) mà không tốn công sắp đặt ; Khốn thì thân tuy cùng mà đạo vẫn thông, nhờ đó hết cùng thì sẽ thông. Tỉnh thì tùy ở một nơi mà ơn nhuận lưu hành khắp (như nước giếng) ; tốn thì xướng hợp với mọi hoàn cảnh mà không để lộ tài đức ra.
4. Lí dĩ hòa hạnh, Khiêm dĩ chế lệ ; Phục dĩ tự tri ; Hằng dĩ nhất đức ; Tổn dĩ viễn hại, Ích dĩ hưng lợi, Khốn dĩ quả oán; Tỉnh dĩ biện nghĩa; Tốn dĩ hành quyền.
Dịch : (Dùng) quẻ Lí để điều hoà tính của mình ; quẻ Khiêm để điều chế điều lễ ; quẻ Phục để làm chủ (tri ở đây nghĩa là làm chủ) mình ; quẻ Hằng để cho đức của mình được thuần nhất ; quẻ Tốn để tránh xa mọi cái hại, quẻ Ích để hưng khởi mọi cái lợi ; quẻ Khốn để khi hoạn nạn ít phải oán hận ; quẻ Tỉnh để biện minh điều nghĩa, quẻ Tốn để biết quyền biến.
CHƯƠNG VIII
1. Dịch chi vi thư dã bất khả viễn
Vi đạo dã lũ thiên
Biên động bất cư
Chu lưu lục hư
Thượng hạ vô thường
Cương nhu tương dịch
Bất khả vi yển yếu
Duy biến sở thích
Dịch :
Sách dịch không thể quên (1)
Đạo dịch thường biến thiên
Biến động không ngừng
Xoay quanh sáu cõi (2)
Thăng giáng không nhất định (3)
Cương nhu (dương âm) thay nhau
Không dùng làm khuôn mẫu bất dịch được (4)
Có biến hóa mới thích hợp
Chú thích : tiết này có âm tiết, có vần gần như thơ, đại ý bảo Dịch là Biến dịch
(1) không thể quên hay không thể rời được vì dịch là sách hướng dẫn ta trong mọi việc hằng ngày. Có người hiểu là dịch không xa rời âm dương được,vì căn bản của dịch là âm dương
(1) Lục hư ở đây có thể hiểu là 6 hào trong mỗi quẻ
(2) Vì “dương” thăng mà cũng có khi giáng ; âm giáng mà cũng có khi thăng
(3) Điểm yếu là khuôn ẫu bất dịch cho mọi việc mọi thời được.
2. Kì xuất nhập dĩ độ
Nội ngoại sử tri cụ
Dịch : (Dịch) ra vào có chừng mực
(Việc) trong (việc) ngoài, (Dịch) khuyên ta phải thận trọng
Chú thích : tiết này tối nghĩa, e sót chữ hay lầm. Phan Bội Châu không dịch.
3. Hựu minh ư ưu hoạn dữ cố,
Vô hữu sư bao,
Như lâm phụ mẫu
Dịch : (Dịch) lại làm cho (ta) rõ sự lo lắng và nguyêncớ.
(Cho nên) ta tuy không có thầy
mà như được cha mẹ chăm sóc (vi có Kinh Dịch)
Chú thích : Tiết này Phan Bội Châu cũng bỏ.
4. Sơ suất kì từ nghi quĩ kì phương,
Kí hữu điển thường,
Cẩu phi ki nhân,
Đạo bất hư hành.
Dịch : Mới đầu do lời (Thoán từ, Hào từ, mà đắn đo ý nghĩa,
Khi thấy qui tắc rồi,
nhưng nếu không phải là người (sáng suốt)
thì cũng không thi hành đạo (Dịch) được.
Chú thích : Hai câu cuối có thể hiểu là :
Nhưng nếu không có người (sáng suốt)
Thì đạo (Dịch) không thể sáng tỏ được.
CHƯƠNG IX
(Chương này Phan Bội Châu bỏ trọn)
1. Dịch chi vị thư đã, nguyên thủy yếu chung dĩ vi chất dã.
Lúc nào tương tạp, duy kì thời vật dã.
Dịch : Trong Kinh Dịch mỗi quẻ bắt đầu từ hào sơ, kết thúc ở hào thượng, đó là đủ thẻ của quẻ. Sáu hào là sáu thành phần của quẻ, xen lẫn nhau, chỉ cho biết ý nghĩa tùy từng thời thôi.
Chú thích : Nghĩa là khi xét ý nghĩa của quẻ thì phải xem toàn thể sáu hào; khi xét mỗi hào thì chỉ biết sự biến chuyển vào một thời nào đó thôi.
2. Kì sơ nan chính trị, kì thượng dị chính trị,bản mạt dã. Sơ từ nghĩ chi, tốt thành chi chung.
Dịch : Ý nghĩa hào sơ khó biết, ý nghĩa hào thượng dễ biết, vì hào sơ trỏ lúc đầu (chưa biết sự việc biến chuyển ra sao), hào thượng trỏ lúc cuối (lúc mãn cuộc, mọi biến chuyển đã biết rõ rồi). Lời đoán hào sơ là lời đắn đo, toan tính; kết quả tới cuối mới biết.
3. Nhược phù tạp vật soạn đức, biện thị dữ phi, tắc phi kì trung hào bất bị.
Dịch : còn như muốn biết việc làm và tính cách của mỗi sự việc, phân biệt phải trái, thì phải xét (bốn) hào ở giữa mới đủ được.
4. Y, diệc yêu (1) tồn vong cát hung, tắc cư khả chính trị hĩ. Trí giá quan kì thoán từ, tắc tư quá bán hĩ.
Dịch : Ôâi, muốn biết (1) về sự mất còn, tốt xấu thì có thể dễ dàng (2) biết được. Kẻ sáng suốt (trí) xem lời thoán từ (lời đoán toàn quẻ) thì nghĩ ra được quá nửa rồi.
Chú thích : (1) Chữ yêu ở đây R.Wilhelm đọc là yếu, nghĩa là quan trọng và dịch : cái điều quan trọng nhất về mất còn, tốt xấu.
(2) Chữ cư này chúng tôi đoán nghĩa như vậy, không biết đúng không.
5. Nhị dữ tứ đồng công nhị dị vị, kì thiện bất đồng. Nhị đa dự, tứ đa cụ, cận dã. Nhu chi vi đạo, bất lợi viễn giả, kì yếu vô cửu, kì dụng nhu trung dã.
Dịch : Hào 2 và hào 4 cùng “công” (cùng ở vị trí ngẫu – chẵn – tức 2 và 4) mà khác bậc (cao thấp khác nhau : 2 ở dưới, 4 ở trên), cái hay do đó cũng khác nhau. Hào 2 được nhiều tiếng khen, hào 4 thì nhiều sợ hãi (vì hào 4 ở gần hào 5 là gần vua). Một hào nhu (nghĩa là ở vị trí ngẫu) mà ở xa (1) thì không lợi, nhưng điều quan trọng là khỏi bị lỗi, mà hào (2) được lợi là nhu thuận mà đắc trung (2) (do đó không bị lỗi).
Chú thích : (1) ở xa hào 5, xa vua.
(2) Trong mỗi quẻ, hào 2 ở giữa nội quái và hào 5 ở giữa ngoại quái, gọi là đắc trung, tốt. Coi phần I, Chương IV.
6. Tam dữ ngũ đồng công nhi dị vị, Trung tâm đa hung, ngũ đa công, quí tiện chi đẳng dã. Kì nhu nguy, kì cương thăng (1).
Dịch : Hào 3 và hào 5 cùng “công” (cùng ở vị trí cơ – lẻ – tức 3 và 5) mà khác bậc (3 ở thấp, 5 ở cao). Hào 3 gặp nhiều cái xấu, hào 5 làm được nhiều việc lớn, là do sang hèn khác nhau. Ở vị trí cơ, nhu nhược thì nguy, cương cường mới kham được chăng?
Chú thích : R. Wilhelm và J. Legge đều đọc là thắng và dịch là thắng. Theo Chu Hi thì phải đọc là thăng.
CHƯƠNG X
1. Dịch chi vi thư dã, quảng đại tất bị : hữu thiên đạo yên, hữu nhân đạo yên, hữu địa đạo yên, kim tam tài nhi lưỡng chi, cố lục. Lục giả, phi tha dã, tam tài chi đạo dã.
Dịch : Sách Dịch bao la (rộng lớn) gồm đủ cả : có đạo trời, có đạo người, có đạo đất, gồm cả ba ngôi (trung tâm tài là trời, người, đất) mà nhân hai lên, cho nên thành ra sáu hào. Sáu hào không có gì khác là đạo của ba ngôi.
Chú thích : Mỗi đơn quái có ba hào trỏ ba ngôi : hào trên cao là trời, hào giữa là người, hào dưới là đất. Một trùng quái gồm nội quái và ngoại quái, tức hai đơn quái, cho nên nói là “nhân hai lên thành sáu hào”.
Nhưng xét trọn trùng quái thì có khi người ta cho hào 5,6 là trời, hào 3,4 là người, hào 1,2 là đất.
2.Đạo hữu biến động, cố viết hào. Hào hữu đẳng, cố viết vật. Vật tương tạp cố viết văn. Văn bất đáng, cố cát hung sinh yên.
Dịch : Đạo có thay đổi biến động, nêu sáu vạch trong quẻ gọi là hào. Hào có bậc (cao thấp) trong quẻ, cho nên nó tượng trưng sự vật. Sự vật (cương nhu) xen nhau, cho nên có những đặc tính của mỗi hào. Đặc tính của mỗi hào có khi không thích hợp với vị trí của nó, cho nên mới sinh ra tốt xấu.
Chú thích : Tiết này rất tối nghĩa (Phan Bội Châu chỉ dịch mỗi câu đầu), mỗi người hiểu một khác. Chu Hi không giảng thế nào là “văn”. Chúng tôi miễn cưỡng dịch – Có lẽ bỏ, không dịch 3 câu sau như Phan Bội Châu thì hơn.
Chữ hào có nghĩa là (âm dương) giao nhau, sinh biến động.
CHƯƠNG XI
Tiết độc nhất.
Dịch chi hưng dã, kì dương Ân chi mạt thế, Chu chi thịnh đức dự án? Đương Văn Vương dữ Trụ chi sự da? Thị cố kì từ nguy. Nguy giả sử bình, dị giả sử khuynh, kì đạo thậm đại, bách vật bất phế. Cụ dĩ chung thủy, kì yêu vô cửu, thủ chi vị Dịch chi đạo dã ?
Dịch : Đạo Dịch hưng thịnh lên (1) vào cuối đời nhà Aân, lúc đức nhà Chu đang thịnh ư ? vào lúc vua Văn Vương có chuyện với Tru đấy ư ? vì vậy mà Thoán từ (của Văn Vương) có giọng nguy sợ. Hễ có lòng nguy sợ thì (tìm cách) khiền cho nguy thành yên; mà (ngược lại) hễ có lòng khinh dị (coi thường) thì tự gây cho mình sự sụp đổ. (Đạo trời như vậy mà) đạo Dịch (cũng vậy) thật tổ chức lớn, không bỏ một vật nào không xét tới (Biết) lo sự (thận trọng) từ đầu tới cuối là để không mắc lỗi, như vậy là đạo Dịch chăng ?
Chú thích : (1) Tác giả chương này dùng chữ “hưng” có lẽ là ngầm bảo rằng Dịch đã có từ trước (đời Phục Hi), đền đời Văn Vương mới thịnh lên.
(2) Ám chỉ vụ Văn Vương bị Trụ giam trong ngục Dữu Lí.
CHƯƠNG XII
1. Phù Càn, thiên hạ chi chí kiện dã, đức hạnh hằng dị, dĩ chính trị hiểm. Phù Khôn, thiên hạ chi chí thuận dã, đức hạnh hằng giản, dĩ chính trị trở.
Dịch : Đạo Càn mạnh nhất trong thiên hạ, đức (đặc tính) của nó là làm việc gì cũng dễ dàng, bình dị, mà biết được chốn nguy hiểm. Đạo Khôn nhu thuận nhất trong thiên hạ, đức của nó là đơn giản, mà biết được sự trở ngại.
Chú thích : So sánh tiết này với tiết 6 Chương I thiên Thượng.
2. Năng duyệt chư tâm, năng nghiên chư hầu chi (1) lự, định thiên hạ chi cát hung, thành thiên hạ chi vỉ vỉ dã.
Dịch : (Thánh nhân) biết vui trong lòng và tìm tòi trong ý nghĩ (cho nên) định được cát hung trong thiên hạ, và làm được những việc gắng gỏi trong thiên hạ.
Chú thích : (1) Hai chữ “hầu chi” này dư, chắc là chép lầm. Phan Bội Châu bỏ tiết này và hai tiết sau.
3. Thị cố biến hóa vân vi, cát sự hữu tường, tượng sự chính trị khí, chiêm sự tri lai.
Dịch : (Biết) biến hóa trong lời nói (1) và việc làm (biết) việc tốt có điềm lành, xem hình tượng mà biết cách chế đồ dùng, xem bói mà biết được tương lai.
Chú thích : (1) R. Wilhelm cơ hồ bỏ chữ “vân”, dịch là : Biến hóa đưa tới việc làm, J. Legge dịch khác hẳn : trong các biến hóa, lời nói và việc làm, sự việc gì tốt đều có điềm lành.
Chúng tôi dịch theo lời giảng của Chu Hi : “Biến hóa trong lời nói và việc làm, cho nên do việc xem hình tượng mà biết cách chế đồ dùng; việc tốt có điềm lành, cho nên xem bói mà biết được tương lai”.
Về việc xem hình tượng mà chế đồ dùng, xem lại Chương 2, thiên Hệ từ hạ truyện này.
4. Thiên địa thiết vị, thánh nhân thành năng, nhân mưu quỉ mưu, bách tính dự năng.
Dịch : Trời đất đặt ngôi rồi, thánh nhân hoàn thành khả năng của mình (Kinh Dịch) nhờ vậy mà trăm họ được dự vào những lời khuyên (mưu tính) của người và của quỉ thần.
Chú thích : Tiết này tối nghĩa, mỗi nhà hiểu một khác. Chúng tôi châm chước Chu Hi và J. Legge.
5. Bát quái dĩ tượng cáo, hào thoán dĩ tình ngôn. Cương nhu tạp cư nhi cát hung khả kiền hĩ.
Dịch : Bát quái lấy “tượng” mà bảo, những lời đặt ở sau các hào và các quẻ tùy hoàn cảnh, sự việc (tình) mà chỉ cho ta(1). Cứng mềm (các hào dương âm) lẫn lộn với nhau, do đó mà biết được cát hung.
Chú thích : (1) Câu này có nghĩa là : thời thượng cổ, người ta chỉ xem hình tượng mỗi quẻ mà biết được tốt xấu; tới đời sau Văn Vương, Chu Công mới đặt thoán từ, hào từ để giảng cho rõ.
6. Biến động dĩ lợi ngôn, cát hung dĩ tình thiên. Thị cố ái ố tương công nhi cát hung sinh, viễn cận tương thủ nhi hối lận sinh, tình ngụy tương cảm nhi lợi hại sinh. Phàm Dịch chi tình, cận nhi bắt tương đắc tắc hung, hoặc hại chi, hối thả lận.
Dịch : (Tiết này Chu Hi không giảng gì cả. Có hai cách hiểu, tối dịch cả ra dưới đây)
b) Phan Bội Châu – Quái, hào, lấy lợi mà nói gì thì phải có biến động (vì có biến mới thông, có thông mới lợi); cát hung tùy ở tình người mà thuyên chuyển (tình mà thiện thì cát ác thì hung).
Cho nên yêu ghét hai tình đó xung đột nhau mà sinh ra cát, hung (xung đột, phía nào phải thì được, là cát); xa gần xâu xé nhau mà sinh ra hối tiếc, chân thật, giả dối đối đãi với nhau mà sinh ra lợi hay hại.
Tóm lại, cái tình tả trong Dịch là gần nhau mà không tương đắc nhau thì hung, hoặc mắc tổn hại, hối và tiếc. (Phan Bội Châu không dịch, chỉ giảng rất dài, non ba trang, chúng tôi tóm tắt lại như trên).
b) (R. Wilhelm và J. Legge hiểu đại khái như nhau. Chúng tôi lựa bản dịch của Wilhelm).
“Biến và động được xét theo các lợi (mà chúng mang lại). Cát và hung thay đổi tùy theo điều kiện (conditions). Cho nên yêu và ghét xung đột nhau mà cát hung từ đó sinh ra(1). Xa và gần làm hại nhau mà hối và tiếc từ đó sinh ra. Chân và ngụy ảnh hưởng lẫn nhau mà lợi hại từ đó sinh ra. Mọi hoàn cảnh trong Kinh Dịch tóm lại như sau : khi sự vật gần nhau mà không hòa hợp với nhau thì hung : sinh ra hại, hối và xấu hổ !”
(1) Wilhelm giảng : “tùy theo các hào thu hút hay xô đẩy nhau mà cát hung sinh ra”.
Vậy Phan Bội Châu cho tiết này nói về tình người, R. Wilhelm và J. Legge hiểu là sự hòa hợp hay xung khắc của các hào, có thể gọi là “tình “ của các hào.
Hai cách hiểu đó đều chấp nhận được. Phan Bội Châu thiên về đạo lý; R. Wilhelm và J. Legge chỉ xét sự tương quan của các hào. Có thể bảo hai nhà sau dịch sát còn Phan Bội Châu giảng và áp dụng vào xử thế.
7. Tương phản giả, kì từ tàm; trung tâm nghi giả, kì từ chi. Cát nhân chi từ quả; táo nhân chi từ đa. Vu thiện chi nhân, kì từ đúng đắn; thất kì thủ giả, kì từ khuất.
Dịch : Người nào sắp làm phản thì lời nói có ý thẹn; người nào trong lòng nghi ngờ thì lời nói nước đôi (1). Người tốt thì ít lời, người nóng nảy thì nhiều lời. Người giả dối (giả nhân nghĩa) thì lời nói không thật (2), người không giữ vững chí thì lời nói quanh co.
Chú thích : (1) Chỉ có nghĩa là cành; có người dịch là chia nhánh, hoặc tán loạn.
(1)Đúng đắn Từ Hải giảng là trôi nổi, hư phù, không thực; có người dịch là bông lông, hoặc vòng vốn.
(Chương cuối này tóm tắt và kết luận về ích lợi của Kinh Dịch).











