
THIÊN HẠ
CHƯƠNG I
1. Bát quái thành liệt, tượng tại kì trung hĩ ; nhân nhi trùng chi,hào tại kì trung hĩ.
Dịch : bát quái thành hàng thì “tượng” có ở trong đó ; rồi nhân đó mà chồng bát quái lên với nhau (thành 64 trùng quái) thì (sáu) hào có ở trong đó
Chú thích : theo Chu Hi, bát quái sắp thành hàng nghĩa là sắp theo thứ tự : Càn nhất, Đoái nhì, Li ba, Chấn bốn (theo chiều nghịch kim đồng hồ), rồi bắt từ : Tốn là năm, theo chiều thuận kim đồng hồ, Khảm sáu, Cấn bảy, Khôn tám. Coi hình tiên thiên bát quái Phần I, Chương I
2. Cương nhu tương thôi, biến tại kì trung hĩ ; hệ từ yên nhi mệnh chi, động tại kì trung hĩ.
Dịch : Cứng mềm (tức nét dương, nét âm) đun đẩy (thay chỗ) nhau mà có sự biến hóa ở trong ; lời đoán tốt xấu được (ghép) vào mỗi hào .Mà sự động của hào sẽ ra sao đã chỉ ở trong đó.
Chú thích : chữ “động” ở đây cũng có thể hiểu là cách hành động (nên ra sao0
1. Cát hung hối hận giả sinh hồ động giả dã
Dịch : tốt xấu, ăn năn và tiếc nhân cái động trong quẻ và hào mà thấy.
4. Cương nhu giả lập bản dã ; biến thông giả thú thời giả dã.
Dịch : cứng mềm (nét dương, nét âm) có ngôi nhất định sẵn nét dương nên ở ngôi lẻ : 1, 3, 5 ; nét âm nên ở ngôi chẵn : 2, 4, 6) ; từ ngôi này mà đổi ra ngôi kia phải theo thời.
Chú thích : tiết này tối nghĩa , mỗi hiểu một cách. Chúng tôi theo Chu Hi
5. Cát hung giả, trinh thắng giả dã.
Dịch : cát và hung luôn luôn thắng lẫn nhau theo một luật nhất định (vì một việc đời, không cát thì hung, hết cát lại hung, hết hung lại cát, cứ thuận lẽ là tốt, trái lại là xấu
Chú thích : tiết này cũng tối nghĩa. Chữ “Trinh” ở đây chu Hi giảng là “thường” nhất định R.Wilhem giảng là kiên nhẫn, lâu bền ,ý muốn nói là phải lâu rồi mới xoay chiều, cát biển ra hung hoặc ngược lại.
6. Thiên địa chi đạo trinh quan giả dã, nhật nguyệt chi đạo trinh minh giả dã, thiên hạ chi động trinh phù nhất giả dã.
Dịch : đạo trời đất chỉ bảo (quan) cho ta luật đó, đạo mặt trời, mặt trăng nhờ kiên nhẫn mà sáng. Mọi hoạt động trong thiên hạ cũng theo luật đó mà thôi.
7. Phù càn xác thiên thi nhân dĩ hĩ ; phù Khôn đôi nhiên thị nhân giản hĩ.
Dịch : đạo còn mạnh mẽ, chỉ cho nguời ta cái dễ dàng của nó, đạo khôn nhu thuận chỉ cho người ta cái đơn giản của nó.
8. Hào đã giá hiệu giả dã ; tượng dã giả, tượng thử giả dã.
Dịch : hào (có lẽ, chẵn) là bắt chước đạo càn khôn đó, “tượng” là phỏng theo đạo càn, khôn mà diễn bằng hình tượng
9. Hào tượng động hồ nội, cát hung hiện hồ ngọai. Công nghiệp hiện hồ biến, thánh nhân chi tình hiện hồ từ.
Dịch : Hào và tượng động ở trong, mà cát hung hiện ở ngoài. Công nghiệp hiện ra ở sự biến hóa, mà tình ý của thánh nhân hiện ra ở lời giảng (quái từ, hào từ)
10. Thiên địa chi đại đức viết sinh, thánh nhân chi đại bảo viết vị. Hà dĩ thủ vị ? Viết nhân, hã dĩ tụ nhân? Viết tài, lí tài chính từ cấm dân vi phi viết nghĩa.
Dịch : đức lớn của trời đất là sinh (sinh sinh hoá hóa), cái rất quí của thánh nhân là cái ngôi. Nhờ cái gì mà giữ được ngôi? Nhờ điều nhân (1). Nhờ cái gì mà tụ họp được người lại? Nhờ tiền của, điều khiển (điều hòa) tài chính (tức các sản phẩm để nuôi dân), điều chỉnh lời để dạy dân, lại (dùng pháp luật hiến chương ) cấm dân làm bậy, như vậy là điều nghĩa.
Chú thích : chữ nhân ở đây, bản cổ là (người), các bản ngày nay sửa là (nhân từ) J.Legge và R.Wilhem đều dịch theo bản cổ. Bản cổ cho rằng phải có người mới giữ được nước, được ngôi cho thánh nhân ; vả lại hiểu “nhân” là người thì ý mới liền với câu sau : “Hà dĩ tụ nhân…”
(Cả chương này, Phan Bội Châu chỉ dịch mỗi tiết thứ 10 này thôi)
CHƯƠNG II
1. Cổ giả bào Hi thi chi vương thiên hạ dã, ngưỡng tắc quan tượng ư thiên, phủ tắc quan pháp ư địa, quan điểm thú chi văn dư thiên địa chí nghi, cận thủ chư thân, viễn thủ chư vật, ư thị thủy tác bát quái dĩ thông thần minh chi đức, dĩ loại vạn vật chi tình.
Dịch : ngày xưa họ Bào Hi (tức Phục Hi) cai trị thiên hạ, ngửng lên thì xem các hình tượng trên đời, cuối xuống thì xem các phép tắc ở dưới đất, xem các văn vẻ của chim muông cùng những thích nghi với trời đất (của từng miền). Gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy ở vật, rồi làm ra bát quái để thông suốt cái đức thần minh và điều hòa cái tình của vạn vật.
Chú thích : Phan Bội Châu chỉ dịch tiết này và tiết 5, còn thì bỏ hết.
2. Tác kết thằng vi vọng cổ, dĩ điền dĩ ngư, cái thủ chi Li
Dịch : (Bào Hi) thắt dây mà làm ra cái rớ, cái lưới để săn thú, đánh cá, là lấy tượng của quẻ Li
Chú thích : vậy là Bào Hi phỏng theo một cái gì đó trong thiên nhiên mà vạch ra quẻ Li rồi lại phỏng theo quẻ Li mà tạo ra cái lưới?
3. Bào Hi thị một, Thần Nông thị tác, trác mộc vi tỉ (cũng đọc là cử hoặc tự) nhu mộc vi lỗi, lỗi nậu chi lợi, dĩ giáo thiên hạ, cái thủ Chư Ích
Dịch : họ Bào Hi mất. Tới khi họ Thần Nông đấy lên, đẽo gỗ làm cái lưỡi cày , uốn gỗ làm cái cán cày, đem cái lợi của cái cày , cái bừa dạy cho thiên hạ, là lấy tượng quẻ Ích
4. Nhật trung vi thị, trí thiên hạ chi dân, tu thiên hạ chi hóa, giao dịch nhi thoái, các đắc kì sở, cái thủ chi phệ hạp
Dịch : mặt trời đứng bóng thì họp chợ, khiến dân trong thiên hạ tụ họp lại trao đổi hàng hóa với nhau xong rồi về, ai cũng được như ý, là lấy tượng ở quẻ phe hạp
5. Thần Nông thị một, Hoàng đế, nghiêu thuấn thị tác, thông kì biến, sử dân bất quyện, thần nhi hoá chi, sử dân nghi chi. Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu. Thị dĩ tự nhiên hựu chi cát, vô bất lợi. Hoàng đế, Nghiêu, Thuấn thùy y thường nhi thiên hạ trị, cái thủ chư Càn, Khôn.
Dịch : Họ thần nông mất. Rồi các họ Hoàng đế, Nghiêu, thuấn nổi lên tiếp tục sự biến đổi, khiến cho dân không buồn chán (về những việc cũ) ; cách biến đổi của các ông ấy thần diệu, khiên cho dân vui lòng thích nghi. Đạo dịch là đến lúc cùng tất phải biến, đã biến thì thông, nhờ thông mà được lâu dài. Thế là tự trời giúp cho, tốt. Không có gì là chẳng lợi.
Vua hoàng đế, vua Nghiêu, vua Thuấn rũ áo (ngồi yên trên ngôi, không làm gì cả) mà thiên hạ được rị, là lấy tượng ở quẻ Càn, quẻ Khôn.
6. Khô mộc vi chu, diệm mộc vi tiếp. Chi tiếp chi lợi dĩ tế bất thông trí viễn dĩ lợi thiên hạ, cái thủ chư Hoán
Dịch : xẻ gỗ làm thuyền, đẽo gỗ làm mái chèo. Cái ích lợi của thuyền, chèo là có phương tiện giao thông, tới những nơi xa được,làm lợi cho thiên hạ, đó là lấy tượng ở quẻ Hoán.
Chú thích : Chu Hi ngờ rằng những chữ “trí viễn dĩ lợi thiên hạ”, tới những nơi xa được, làm lợi cho thiên hạ) là thừa.
7. Phục ngưu thừa mã, dẫn trọng trí viễn dĩ lợi thiên hạ, cái chủ chư Tùy
Dịch : đánh bò cưỡi ngựa chở nặng đến xa, làm lợi cho thiên hạ, đó là lấy tượng ở quẻ Tùy
8. Trung môn kích thác dĩ dãi bạo khách, cái thủ chư Dự.
Dịch : đóng hai lần cửa, đánh mõ để báo động kẻ cướp, là lấy tượng ở quẻ Dự.
9. Đoạn mộc vi chử, quật địa vi cữu ; cữu chủ chi lợi vạn dân dĩ tế, cái thủ chư Tiểu quá.
Dịch : đẽo gỗ làm chày, đào đất làm cối, cái ích lợi của cối chày là để giúp nhân dân,là lấy tượng ở quẻ tiểu quá.
10. huyền mộc vi hồ, diệm mộc vi thỉ, hồ chỉ chi lợi dĩ uy thiên hạ, cái thủ chư Khuê.
Dịch : dăng dây để uốn gỗ thành cung, đexo gỗ làm tên, dùng cái lợi của cung tên để làm uy thiên hạ, là lấy tượng ở quẻ Khuê.
11. Thượng cổ huyệt cư nhi dã xử ; hậu thế thánh nhân dịch chi dĩ cung thất, thượng đống hạ vũ dĩ đãi phong vũ, cái thủ cho Đại Tráng
Dịch : Thời thượng cổ người ta (mùa đông) ở trong hang (mùa hè) ở giữa đồng ; thánh nhân đời sau mới thay bằng nhà cửa, trên có dòn nóc ; dưới có mái che để phòng lúc mưa gió là lấy cái tượng ở quẻ Đại Tráng
12. Cổ chi táng giả, hậu ý chi dĩ tân, táng chi trung dã, bất phong bất thụ ; tang kì vô số ; hậu thế thánh nhân dịch chi dĩ quan quách ; cái thủ chư Đại quá.
Dịch : thời xưa, chôn cất người chết thì lấy củi nó một lớp dày chung quanh rồi chôn ở giữa đồng, không đắp mộ cũng không trồng cây ; để tang bao lâu không hạn định ; thánh nhân đời sau thay đổi (cách thức) ; dùng áo quan và quách, là lấy tượng ở quẻ Đại quá
13. Thượng cổ kết thằng nhi trị,hậu thế thánh nhân dịch chi dĩ thư khế bách quan dĩ trị, vạn dân dĩ sát, cái thủ chư Quải.
Dịch : thời thượng cổ thắt nút dây (để ghi nhớ các việc) mà cai trị ; thánh nhân đời sau thay đổi (cách thức), dùng văn tự, khế ước,mà cai trị trăm quan, kiểm sóat dân chúng, là lấy tượng ở quẻ Quải.
ù
Chú thích : tác giả chương này cho ta thấy một công dụng bât ngờ của kinh dịch, bảo nó là nguồn gốc của văn minh, bao nhiêu phát minh thời thượng cổ từ nhà cửa, chữ viết , tới vịêc trị dân võ bị, phòng cướp, giao thông, chôn cất… đều do kinh dịch mà có cả ; vì phục hi, thần nông… nhận xét các hiện tượng trong vũ trụ mà đặt ra tám đơn quái và 64 trùng quái để tượng trưng mọi sự vật, rồi lại phỏng theo 64 trùng quái đó để tạo nên nền văn minh thời cổ.
Ví dụ : phục hi nhận xét một vật gì đó trong vũ trụ mà tạo ra quẻ Li rồi phỏng theo hình quẻ đó tạo ra lưới bẫy thú và đánh cá. Điều đó có cái gì khó hiểu. Sao không nói rằng Phục hi nhận xét chẳng hạn một mạng nhện rồi chế tạo ngay ra chiếc lưới, mà lại phải qua giai đoạn trung gian là quẻ Li?
Sau mỗi tiết trong chương này, Chu HI thường giải thích cổ nhân mượn ý nào trong một quẻ nào đó để tạo nên một đồ dùng nhưng giải thích của ông sơ sài quá, khiên cưỡng nữa.
Chẳng hạn sau tiết 8, về việc cổ nhân đóng hai lần cửa, đánh mõ để báo động kẻ cướp, là lấy tượng ở quẻ Dự, ông bảo “dự” đây là ý dự bị, đề phòng ; nhưng thực ra,theo Thoán từ (coi (phần dịch) thì quẻ Dự có nghĩa là vui, chứ không có nghĩa là đề phòng. Chữ dự có cả hai nghĩa, khác nhau xa đó. Trong phần Truyện (Hệ từ hạ truyện này) Chu Hi dùng một nghĩa khác phần kinh (Thoán từ ), như vậy là khiên cưỡng.
R.Wilhem không biết theo sách nào, dùng tượng của quẻ để giải thích kĩ hơn : “Quẻ Lôi địa dư gồm quẻ Chấn có nghĩa là động, ở trên quẻ Khôn là đất. Hào 3, 4, 5 họp thành quẻ hỗ (1) Khảm có nghĩa là nguy hiểm ; hào 2, 3, 4 họp thành một quẻ hỗ nữa : quẻ Cấn là núi. Quẻ Khôn tượng trưng cái quẻ đóng, mà quẻ Cấn cũng có nghĩa là cái cửa ; vậy là có hai lần nữa. Quẻ Khảm có nghĩa là ăn trộm. Bên kia cửa, có động (quẻ Chấn) với gỗ (chấn là gỗ) ở trong tay (cấn là tay) dùng để dự bị (tên quẻ : Dự cũng có nghĩa là dự bị), chống lại kẻ trộm”.
_____ _____
_____ _____
___________
_____ _____
_____ _____
___________
Cũng rất khiên cưỡng : Chấn là Gỗ, cấn là cửa, là tay
Vô lý nhất là lời chú giải này của Chu Hi : vềø quẻ Phệ hạp. Thần nông mượn chữ phệ làm chữ thị, chữ hạp làm chữ hạp (nghĩa là lấy những chữ phát âm giống nhau nhiều ít như phệ và thị mà thay cho nhau), do đó mà phệ hạp nghĩa là cắn để họp lại (coi quẻ phệ hạp – số 21) hóa ra thị hạp nghĩa là họp chợ. Từ đó mới có chợ (thị). Nhưng trước khi thần nông đặt ra chợ thì làm gì có chữ thị để ông mượn mà thay cho chữ phệ? Chưa có vật gì thì làm sao có tên để chỉ vật? Còn nếu như đã có chữ thị rồi,có việc họp chợ rồi, thì cần ghì phải mượn hai chữ phệ hạp để tạo ra hai chữ thị hạp nữa?
CHƯƠNG III
1. Thị cố Dịch giả tượng dã ; tượng giả tượng dã
Dịch : cho nên dịch là hình tượng ; hình tượng là phỏng theo, là tương tự.
2. Thoán giả tài dã.
Dịch : Thoán (từ) là ý nghĩa của mỗi quẻ. (có người dịch là tài liệu của mỗi quẻ)
3. Hào dã giả, hiệu thiên chi động giả dã.
Dịch : hào là phỏng theo các biến động trong thiên hạ.
4. Thị cố cát hung sinh nhi hối lận trứ dã.
Dịch : cho nên tốt xấu sinh ra mà sự hối tiếc hiện rõ.
(Chương này không diễn thêm được ý gì. Bốn tiết có thể gom làm một. Phan Bội Châu bỏ cả chương)
CHƯƠNG IV
1. Dương quái đa âm, âm quái đa dương
Dịch : trong quẻ dương có nhiều âm, trong quẻ âm có nhiều dương.
Chú thích : như các quẻ Chấn, Khảm và Cấn là dương mà đều có hai hào âm, một hào dương ; như các quẻ Tốn, Li, Đoái là âm mà đều có hai hào dương, một hào âm.
2. Kì cố hà dã ? Dương quái cơ, âm quái ngẫu
Dịch : tại sao như vậy? Tại quẻ dương lẻ, quẻ âm chẵn.
Chú thích : Chu Hi giảng : quẻ này dương lẻ vì có 5 nét (5 là số lẻ), như quẻ Khảm có hai hào âm, mỗi hào 2 nét, với 1 hào dương, 1 nét, cộng là 5 nét ; quẻ âm chẵn vì có 4 nét (4 là số chẵn) như quẻ Li có 2 hào dương, mỗi hào 1 nét , với 1 hào âm 2 nét, cộng là 4 nét.
Có người giảng theo Luật : “Chúng dĩ quá vi chủ” (coi lại Phần I chương IV : như quẻ Khảm, có 2 hào âm, 1 hào dương thì lấy hào dương (bào ít) làm chủ, cho nên gọi là quẻ dương ; quẻ Li có 2 hào dương, 1 hào âm thì lấy hào âm (ít) làm chủ, cho nên gọi là quẻ âm.
R. Wilhem giảng một cách khác nữa, rắc rối,tôi không chép lại (coi sách đã dẫn – tr.337)
3. Kì đức hạnh hà dã? Dương nhất quân nhi nhị dân, quân tử chi đạo dã ; âm nhị quân nhi nhất dân, tiểu nhân chi đạo dã.
Dịch : đức hạnh (1) của những quẻ dương và âm ra sao? Trong các quẻ dương có một vua (tức hào dương) và hai dân (tức hào âm) hợp với đạo của quân tử ; trong các quẻ âm có hai vừa và một dân, do là “đạo” (thái độ, tư cách) của tiểu nhân (2)
Chú thích : (1) R.Wilhem đọc là hành và dịch đức hành là bản chất và hành động.
(2) Thí dụ theo Chu Hi quẻ Khảm : hào dương là 1 vua, 2 hào âm, quẻ Li hai hào dương, 1 hào âm là 2 vua, 1 dân. Nhưng ở tiết trên, Chu Hi lấy số nét mà giảng , ở đây lại lấy số hào mà giảng, không nhất trí R.Wilhem không giảng gì cả. Chương này phan Bội châu cũng bỏ trọn.
CHƯƠNG V
1. Dịch viết : “xung xung (đồng đồng) vãng lai, bằng tòng nhĩ lai
Tử viết : “Thiên hạ hà tư hà lự, thiên hạ đồng qui nhi thủ đồ, nhất trí nhi bách lự, thiên hạ hà tư hà lự?”
Dịch : kinh dịch (hào 4 quẻ Hàm) nói : (Trong việc giao thiệp mà) lăng xăng, tính toán có qua lại với nhau thì những người qua lại với anh chỉ là những người anh nghĩ tới mà thôi” (ý muốn nói số bạn không đông, đoàn thể không lớn được)
Thầy (Khổng) giảng : “Đạo lý trong thiên hạ cần gì phải ngẫm nghĩ bằng ý riêng (tư), tính toán bằng mẹo vặt 9 (lự) vì thiên hạ đường đi tuy khác nhau mà qui kết thì y như nhau : tính toán trăm lối mà cuối cùng chỉ tóm vào một lẽ, (lẽ đó là có cảm thì có ứng, ứng lại gây ra cảm) cần gì phải ngẫm nghĩ bằng ý riêng tính toán bằng mẹo vặt.
2. “Nhật vãng tắc nguyệt lai, nguyệt vãng tắc nhật lai, nhật nguyệt tương thôi nhi minh sinh yên ; hàn vãng tắc thử lai, thử văng tắc hàn lai, hàn thử tương thôi nhi tuế thành yên; vãng giã khuất dã,lai giả thân (1) dã, khuất thân tương cảm nhi lợi sinh yên”
Dịch : (đây vẫn tiếp lời Khổng tử trong tiết trên)
“(Tỉ như) mặt trời qua thì mặt trăng lại, mặt trăng qua thì mặt trời lại, mặt trời mặt trăng (cảm ứng nhau) xô đẩy nhau mà ánh sáng phát ra ; mùa lạnh qua thì mùa nóng lại, mùa nóng qua thì mùa nóng lại, lạnh nóng (cảm ứng nhau) xô đẩy nhau mà htành ra năm tháng ; cái đã qua co rút lại, cái sắp tới duỗi dài ra, co rút (khuất), duỗi dài (thân), hai cái đó cảm ứng với nhau mà ích lợi mới nảy ra.
Chú thích : (1) chữ ở đây đọc là thân và dùng như chữ là duỗi.
3. “Xích oách (có người đọc là quặc hay hoạch) chi khuất dĩ cầu thân dã ; long xà chi trập dĩ tồn thân dã ; tính nghĩa nhập thần dĩ trí dụng dã ; lợi dụng an thân dĩ sùng đức dã.
Dịch : (cũng vẫn tiếp lời Khổng tử)
“Con sâu đo co lại là để rồi duỗi ra : con rồng con rắn nấp (dưới vực, dưới đất) là để giữ mình (người quân tử) tìm hiểu nghĩa lý tới chỗ tinh vi, vào tới được chỗ thần diệu là để có công dụng cực kì (mà lập nên sự nghiệp) ; lợi dụng sự an định tâm thân là để cho đức được cao quí.
4. “Quá thử dĩ vãng, vị chi hoặc tri dã ; cùng thần tri hóa, đức chi thịnh dã”
Dịch : (Cũng vẫn tiếp lời Khổng Tử)
(Khi các đức đã quý rồi) từ đó mà tiến lên mãi thì sẽ đạt tới mức mà người thường khó trắc lường được ; vì lúc đó đã cực kì thần diệu, biết hết lẽ biến hóa rồi, thánh đức đã rất thịnh rồi” (Tới đây mới hết lời giảng hào 4 quẻ Hàm của Khổng Tử)
5. Dịch viết : “Phi sở khốn nhì khốn yên, danh tất nhục ; phi sở cứ nhi cứ yên, thân tất nguy ; kì nhục thả nguy, tử kì tương chí, thê kì khả đắc kiến da?”
Dịch : Kinh Dịch (hào 3 quẻ Khốn) nói : “(Như một người) bị khốn vì đá (dằn ở trên – tức hào 4 – coi phần dịch 64 quẻ) mà lại dựa vào cây tật lê (một loại cây gai) (tức hào 2 ở dưới) , vô nhà thì lại không thấy vợ (trỏ hào 6 ở trên), xấu”
Thầy (Khổng) giảng : “Không phải chỗ đáng bị khốn mà mình bị khốn thì danh ắt bị nhục ; không phải chỗ đáng dựa mà mình dựa vào thì thân mình tất bị nguy ; đã bị nhục lại bị nguy thì sắp chết tới nơi còn thấy sao được vợ nữa”
Chú thích : về nhà không thấy vợ, chỉ có ý muốn nói rằng đã nguy đến cùng cực rồi, dù người thân cũng không cứu mình được. Hào này rất xấu. Coi lại phần dịch quẻ Khôn.
6. Dịch viết : “Công dụng thiệc (1) chuẩn vu cao dung chi thượng, hoạch chi, vô bất lợi”.
Tử viết : “Chuẩn giả cầm dã, cung thì giả khí dã, thiệc chi giả nhân dã. Quân tử tàng khí ư thân, đãi thời nhi động, hà bất lợi chi hữu? Động nhi bát quái , thi dĩ xuất nhi hữu hoạch, ngữ thành khí nhi động giả dã”.
Dịch : Kinh Dịch (hào 6 quẻ Giải) nói : “Một vi công nhắm bắn con chim chuẩn ở trên bức tượng cao. Bắn được, không có gì là không lợi”
Thầy (Khổng) giảng : “Chuẩn là một loài chim , cung tên là đồ dùng, kẻ bắn là người. Người quân tử chứa sẵn đồ dùng (tài đức) ở trong mình, đợi thời mà hoạt động, thì có già mà chẳng lợi? Hoạt động mà không bị chướng ngại thì ra làm tất thành công ; ý muốn nói phải có đủ đồ dùng rồi hoạt động (cho đúng lúc)”
Chú thích : (1) ở đây đọc là thiệc, nhưng có người đọc là xạ. Nghĩa không khác nhau mấy : xạ là thuật bắn mũi tên đi xa ; thiệc là nhắm mắt bắn một con vật.
7. Tử viết : “Tiểu nhân bất sỉ bất nhân, bất úy bất nghĩa, bất kiến lợi, bất khuyên, bất uy, bất trừng. Tiểu trừng nhi đại giới, tiểu nhân chi phúc dã. Dịch viết : “Li giảo diệt chỉ, vô cữu, thử chi vị dã”
Dịch : thầy (Khổng) nói : “kẻ tiểu nhân (người tư cách, đạo đức thấp kém) không xấu hổ về điều bất nhân, không sợ điều bất nghĩa, không thấy lợi thì không gắng sức, không thấy cái uy (sự trừng trị) thì không răn mình. Nếuhọ mới có tội nhỏ mà bị trừng trị ngay mà biết răn đe mà không mắc tội lớn, đó là phúc cho họ”. Kinh dịch nói : “Ví như mắc chân vào cái cùm mà đứt ngón chân cái (không có tội lớn) (1) là nghĩa vậy.”
Chú thích : (1) câu này là lỗi hào 1 quẻ Phê Hạp (một quẻ về hình ngục) có nghĩa là : mới làm bậy mà bị trừng trị nhẹ ngay (cùm chân, chặt ngón chân cái) thì sẽ sợ phép mà sau không làm điều ác nữa, không có lỗi lớn.
8. “Thiện bất tích bất túc dĩ thành danh ; ác bất tích bất túc dĩ diệt thân. Tiểu nhân dĩ tiểu thiện vi vô ích nhi phất vi dã, dĩ tiểu ác vi vô thương nhi phất khử dã ; cố ác tích nhi bất khả yểm, tội đại nhi bất khả giải. Dịch viết : “hạ giảo diệt nhĩ, hung”
Dịch : không tích lũy được nhiều điều thiện thì không có danh tiếng được, không tích lũy nhiều điều ác thì không đến nỗi bị diệt thân thể. Kẻ tiểu nhân cho rằng một điều thiện nhỏ là vô ích nên không làm, một điều ác nhỏ là vô hại nên cứ làm ; vì vậy mà điều ác cứ tích lũy tới lúc không che giấu được nữa, tội hoá lớn mà không thể tha được. Kinh dịch nói : “cố tra vào gông, bị tội cắt tai, xấu”
Chú thích : (1) câu này là lời hào 6 quẻ Phệ Hạp. Đây là một tội lớn, hình phạt nặng (đeo gông, cắt tai) rồi, cho nên xấu hơn hào 1, mới bị cùm chân và chặt ngón chân cái thôi, ở đây đọc là hạ nghĩa là vác
Tiết này tiếp tiết trên, cũng là lời của Khổng tử
9. Tử viết : “Nguy giã an kì giả dã ; vong giã bảo kì tồn giả dã ; loại giả hữu kì trị giả dã. Thị cố quân tử an nhi bất vong nguy, tồn nhi bất vong vong, trị nhi bất vong loạn. Thí dĩ thân an nhi quốc gia khả bảo dã”. Dịch viết : “ kì vong” ; kì vong, hệ vu bao tang”
Dịch : thầy (Khổng) nói : “sở dĩ đến nỗi nguy là vi minh chắc giữ yên được vị của mình (1) ; sở dĩ đến nỗi mất là vì mình chắc bảo tồn được ; sở dĩ đến nỗi loạn là vì mình chắc sẽ có cách trị được (ý muốn nói không đề phòng trước). Cho nên người quân tử (người có tài đức, sáng suốt) khi yên ổn thì không quên rằng sẽ có thể nguy ; khi vững thì không quên rằng sẽ có thể mất ; khi trị thì không quên rằng sẽ có thể loạn. Nhờ vậy mà thân an, nước vững”. Kinh dịch nói : “có thể mất đấy, có thể mất đấy : biết lo trước như vậy thì sự nghiệp mình mới vững như buộc vào một cụm đâu (2) cây dâu nhiều rễ ăn sâu dưới đất, rất khó nhổ)”
Chú thích : (1) câu này cũng có người dịch là : “cái nguy làm cho yên ngôi”, tức : đừng quên cái nguy thì mới giữ yên được ngôi. Hai câu sau cũng vậy.
(2) Đây là lời hào 5 quẻ Bĩ
10. Tử viết : “Đức bạc nhi vô tôn, trí tiểu nhi mưu đại, tiểu nhi nhiệm trọng, tiến bất cập hi”. Dịch viết : “ Đỉnh chiết túc, phúc công tốc, kì hình ốc, hung”. Ngôn bất thăng kì nhiệm dã.
Dịch : thầy (Khổng) nói : “Đức mỏng mà ngôi tôn, trí nhỏ mà mưu lớn, sức yếu mà gánh nặng, thì ít khi tránh được (tai nạn). Kinh dịch nói : “Chân vạc gẫy, đánh đổ thức ăn của nhà công hầu mà bị hình phạt nặng, xấu” (1) lỗi đó nói về cái họa không gánh nổi trách nhiệm.”
Chú thích : (1) đây là hào 4 quẻ đỉnh. Hai chữ “hình ốc chúng tôi theo phan bội châu mà dịch như trên. Cụ cho rằng sách Chu Lễ có chữ “ốc tru”, trỏ một hình phạt nặng.
Các sách khác đều dịch là thân mình bị ướt vấy vì thức ăn tung toé.
11. Tử viết : “tri cơ kì thần hồ! Quân tử thượng giao bất siểm,hạ giao bất độc,kì tri cơ hồ! Cơ giả động chi vi, cát chi tiên kiến giả dã. Quân tử kiến cơ nhị tác, bất sĩ chung nhật, Dịch viết : “Giới vu thạch , bất chung nhật, trinh cát. Giới như thạch yên, ninh dụng chung nhật, đoán khả thức hĩ. Quân tử tri vi, tri chương, tri nhu, tri cương, vạn phu chi vọng.”
Dịch : thầy (Khổng) nói : “Biết trước được cái triệu chứng (từ khi mới có dấu hiệu) thì quả là thần diệu. Người quân tử giao tiếp với người trên thì không nịnh, với kẻ dưới thì không nhờn, là biết trước cái triệu chứng vậy. Triệu chứng là cái dấu hiệu đầu tiên rất nhỏ của sự biến động, cát (1) (hay hung) chưa hiện mà đã thấy được. Người quân tử thấy trước cái triệu chứng mà ứng phó ngay, không đợi cho tới hết ngày. Kinh dịch nói : “chí bền chắc như đó, chẳng đợi tới hết ngày (mà ứng phó ngay), chính đính, bền vững, tốt” (2) chí bền chắc như đá thì chẳng cần đợi tới hết ngày, vi phán đoán đã rành rẽ rồi (3). Người quân tử biết được lúc còn lờ mờ, lúc đã rõ rệt, biết lúc nào nên nhu, lúc nào nên cương. Vì vậy mà vạn người trông vào mình”.
Chú thích : (1) có bản thêm chữ “hung” ở đây.
(2) Đây là lời hào 2 quẻ Dự
(3) R.Wilhem dịch là : “lời đoán (quẻ) có thể biết được rồi (?)
12. Tử viết : “ Nhan nhị chi từ kì đãi thứ cơ hồ! Hữu bất thiện vị thường bất tri,tri chi vị thường phục hành dã. Dịch viết : “bất viễn phục vô kì hối, nguyên, cát”
Dịch : thầy (Khổng) nói : “người con họ Nhan (Tức nhan hồi), chăng? Nếu anh ấy có lầm lỗi gì thì biết ngay, biết rồi thì không mắc lần thứ nhì nữa (1) Kinh dịch nói : “Tuy lầm lỗi nhưng thời gian chẳng xa, trở lại tốt lành ngay, thì không đến nỗi ăn năn lớn, rất tốt (2)
Chú thích : (1) sách luận ngữ, thiên ưng dã, bào 2, khổng tử khen nhan hồi 1 “bất nhị quá”, không mắc một lỗi nào tới lần thứ hai.
(2) Đây là lời hào 1 quẻ phục
13. Thiên địa nhân huân, vạn vật hóa thuần ; nam nữ cấu tinh, vạn vật hóa sinh. Dịch viết : “ tam nhân hành tắc tổn thất nhân, nhất nhân hành tắc đắc kì hữu. Ngôn trí nhất dã”
Dịch : (có lẽ thiếu hai chữ “tử viết”ở đầu tiết này)
Trời đất (tức âm dương) giao cảm mà vạn vật hoá ra có đủ hình (?) giống đực giống cái kết hợp tinh khí mà vạn vật sinh nở biến hóa.
Kinh dịch nói : “ba người cùng đi thì bớt đi một người, một người đi (một mình) thì được thêm bạn” (1) đó là nói về lẽ duy nhất (2)
Chú thích : (1) đây là lời hào 3 quẻ Tốn.
(2) Chúng tôi chưa thấy sách nào giảng câu này cho thông. Chu Hi không giảng R.Wilhem không dịch. Chúng tôi dịch gượng như vậy, ngờ rằng tác giả muốn nói luật duy nhất trong vũ trụ là vật gì cũng phải có đôi, đó là điều kiện sinh sinh hoá hóa của vạn vật.
14. Tử viết : “quân tử an kì thân nhi hậu động, dị (1) kì tâm nhi hậu ngữ, định kì giao nhi hậu cần . quân tử tu thử tam giả cố toàn dã. Nguy dĩ động tắc dân bất dữ dã, cụ dĩ ngữ tắc dân bất ứng dã, vô giao nhi cầu tắc dân bất dữ tả. Mạc chi dã tắc thương chi giả chí hĩ. Dịch viết : “mạc ích chi, hoặc kích chi, lập tâm vật hằng,hung”
Dịch : Thầy (Khổng) nói : “người quân tử làm cho thân mình được an ổn rồi sau mới hành động (nếu không thì là táo động, nóng nảy, hấp tấp) ; khiến cho lòng mình – bình dị rồi sau mới nói – thuyết phục người khác (nếu không thì là vọng ngữ) ; làm cho giao tinh được bền rồi sau mới yêu cầu (nếu không thì là vụng về, sẽ thất bại). Người quân tử trau giồi ba điều đó nên được trọn vẹn, yên ổn. Nếu ở trong cảnh nguy mà đã vội hành động thì dân không hưởng ứng ; giao tình chưa được bền mà đã vội yêu cầu thì dân sẽ từ chối. Không ai biểu đồng tình với mình thì cái hại sẽ tới ngay. Kinh dịch nói : “Không ai làm ích cho mình mà có kẻ đả kích mình nữa, là vì không giữ được hằng tâm (lòng luôn luôn tốt) ; xấu” (1)
Chú thích : (1) đây là hào 6 quẻ Ích











