61. QUẺ PHONG TRẠCH TRUNG PHU

Trên là Tốn (gió), dưới là Đoái (chằm)

Đã đinh tiết chế thì người trên phải giữ đức tín để người dưới tin theo, cho nên sau quẻ Tiết tới quẻ Trung phu. Trung phu là có đức tín (phu) ở trong (trung) lòng.

Thoán từ

Trung phu : đồn ngư cát, lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh

Dịch : trong lòng có đức tin tới cảm được heo và cả, tốt như vậy thì lội qua sông lớn được, giữ đạo chính thì lợi

Giảng : quẻ này ở giữa có hai đào âm (hai nét đứt), như trong lòng trống rỗng (hư tâm) không có tư dục, tư ý, còn 4 hào dương là nét liền, đặc, thực (trái với hư) mà hào 2 và hào 5 lại đắc trung (ở giữa nội và ngoại quái), vậy là có đức trung thực. Do đó mà đặt tên là quẻ Trung phu

Theo nghĩa thì trên là Tốn, thuận với người dưới ; dưới là Đoái, phục tòng người trên ; như vậy là cảm hóa được dân.

Lòng chí thành cảm được những vật ngu, không biết gì như heo và cá. Lấy lòng chí thành, hư tâm mà ứng phó với nguy hiểm thì vượt được hết, như qua sông lớn mà ngồi chiếc thuyền trông hư không ( hư chu) , không chở gì cả, thật là an toàn. Phải giữ chính đạo mới tốt.

Đại tượng truyện giảng ; gió ở trên, chằm ở đuôi, là gió (làm) động được nước như lòng thành thực cảm động được người. Nên lấy lòng trung thành mà xử việc thiên hạ ; như xử tội thì xét đi xét lại, tìm cách cứu tội nhân , tha cho tội chết

Hào từ

1. Sơ cửu : ngu cát, hữu tha, bất yến

Dịch : hào 1, dương : liệu tính cho chắc chắn rồi mới tin thì tốt, có lòng nghĩ khác thì không yên

Giảng : hào này mới vào thời Trung phu, tuy ứng với hào 4, âm nhu, đắc chính là người đáng tin, nhưng bước đầu, phải xét cho kĩ lưỡng xem 4 có đáng tin không , khi đã tin rồi thì đừng có đổi chí hướng, lòng phải định rồi mới tĩnh mà yên được

2. Cửu nhị : mình hạc tại âm, kỳ tử hoạ chi

Ngã hữu hảo trước, ngô dữ nhi mĩ chi

Dịch : hào 2, dương : như con hạc mẹ gáy ở bóng dâm con nhó họa lại ; lại như tôi có chén rượu ngon, tôi cùng anh chia nhau

Giảng : hào này ứng với hào 5 ở trên, cả hai đều có đức dương cương, lại đắc trung đều có lòng thành thực, đều là những hào quan trọng trong quẻ Trung phu ; hai bên cảm ứng, tương đắc với nhau như hạc mẹ gáy mà hạc con hoạ lại, như một người có chén rượu ngon mà chia với bạn.

Theo hệ từ thượng truyện, chương VIII, số 5, Khổng tử giải thích ý nghĩa hào này như sau :

“ Người quân tử ở trong nhà mà nói ra, nếu lời nói hay thì người ngoài nghìn dặm cũng hưởng ứng, huống chi là người ở gần … hành vi từ gần phát ra thì ảnh hưởng hiện ngay ở xa…như vậy chẳng nên thận trọng lắm ư.

Khổng tử đã hiểu rộng “tiếng gáy của con hạc” là lời nói hay ; và “chén rượu ngon” là hành vi đẹp, mà khuyên chúng ta phải thận trọng về ngôn, hành.

3. Lục tam : đắc dịch , hoặc cổ, hoặc bãi, hoặc khấp, hoặc ca

Dịch : hào 3, âm : gặp được bạn (địch) lúc thì đánh trống, vui múa, lúc thì chán nản mà ngừng, lúc thì khóc, lúc thì hát

Giảng : hào này âm nhu bất chính, bất trung, ứng với hào ở trên cùng, dương cương mà bất trung, bất chính, như hai người âm ở với nhau mà không thành thực, tính tình thay đổi luôn luôn, vui đó rồi khóc đó. (“Hoặc cổ hoặc bãi”, có người hiểu là : lúc thì cổ võ, lúc thì bỏ đi)

4. Lục tứ : nguyệt cơ vọng, mã thất vọng, vô cứu

Dịch : hào 4, âm : trăng mười bốn (gần tới rằm), con ngựa bỏ ban mà tiến lên, không lỗi

Giảng : hào này đắc chính, thân cận với hào 5, được vua tín nhiệm sự thịnh vượng đã gần tới tuyệt đỉnh rồi, như trăng mười bốn đến ngày rằm. Nó ứng với hào 1, hài bên cặp kè nhau như cặp ngựa, nhưng nó biết phục tòng đạo lý, nên sau bỏ 1,để chuyển nhất với 5, như vậy không có tội lỗi gì.

5. Cửu ngũ : hữu phu luyến như, vô cứu

Dịch : hào 5, dương : có lòng chí thành ràng buộc, không lỗi

Giảng : như trên đã nói, hào này ở ngôi chí tôn, có đủ đức trung chính, thành tin buộc được lòng thiên hạ.

6. Thượng cửu : Hàn âm đăng vu thiên, trinh hung.

Dịch :Hào trên cùng, dương : Tiếng gà lên tận trời, dù có chính đáng cũng xấu.

Giảng : Hào này dương cương, không đắc trung, lại ở vào thời thành tín đã cùng cực, đức tin đã suy, vậy là có danh mà không có thực. Lại thêm không biết tiếng thông, muốn cố giữ đức tính (vì có tính dương cương), cho nên ví với con gà không là loài bay cao được mà muốn lên tới trời.

Vậy lòng thành tín vẫn là tốt, nhưng phải đừng thái quá mà biết biến thông, Phan Bội Châu nhắc truyện ngụ ngôn anh chàng họ Ví (có sách nói là họ Vi) thời Xuân Thu hẹn với một người con gái ở dưới cầu; người đó không tới, nước lên cao, anh ta cứ ôm cột cầu chịu chết. Tín như vậy là ngu, không biết biến thông.

 

62. QUẺ LÔI SƠN TIỂU QUÁ

Trên là chấn (sấm), dưới là Cấn (núi)

Tin (Trung phu) mà làm ngay, không xét điều tin đó phải hay không, thì có thể mắc lầm lỗi, cho nên sau quẻ Trung phu tới quẻ Tiểu quá. Quá có hai nghĩa : lỗi, ra ngoài cái mức vừa phải. Thoán từ dưới đây dùng nghĩa sau :

Thoán từ :

Tiểu quá : Hanh, lợi trinh. Khả tiểu sự, bất khả đại sự.

Phi điểu di chí âm, bất nghi thượng, nghi hạ, đại cát.

Dịch : Cái nhỏ nhiều hơn : Hanh thông hợp đạo chính thì lợi. Có thể làm việc nhỏ, không thể làm việc lớn. Con chim bay mà để tiếng chim lại, không nên lên cao mà nên xuống thấp. Người quân tử biết được vậy thì tốt.

Giảng : Quẻ này trái với quẻ Đại quá số 28. Đại quá có 4 hào dương ở giữa, 2 hào âm ở dưới cùng và trên cùng, như vậy dương nhiều hơn âm, mà dương có nghĩa là lớn, âm là nhỏ, cho nên Đại quá có nghĩa là cái lớn (dương) nhiều hơn. Tiểu quá có 2 hào dương ở giữa, 4 hào âm ở trên và dưới, như vậy là âm – tức cái nhỏ – nhiều hơn dương tức cái lớn; cho nên đặt tên là Tiểu quá. Tiểu quá là cái nhỏ nhiều hơn; nhưng cũng có nghĩa là quá chút ít.

Bình thường thì vừa phải là hay. Nhưng cũng có khi quá một chút lại hay, chẳng hạn trong nhà, chồng tiêu pha nhiều quá, vợ chắt bóp một chút để được trung bình; hoặc khi thiên về bên tả quá, muốn lấy lại mức trung thì nên thiên và bên hữu một chút. Nhưng việc gì cũng phải hợp lẽ, hợp thời, hợp đạo chính thì mới được. Đó là ý nghĩa câu đầu.

Câu thứ hai : Chỉ nên “quá” trong việc nhỏ, không nên “quá” trong việc lớn; vì việc nhỏ, lỡ có quá một chút, hậu quả không tai hại, còn việc lớn mà lỡ quá một chút, một li có thể đi một dặm, hậu quả rất nặng nề, như việc nước, lỗi lầm một chút có thể gây chiến tranh hoặc sự suy sụp về kinh tế…

Thoán truyện giảng : các hào dương (lớn) đều không đắc trung, là quân tử nhất thời, không làm việc lớn được.

Câu thứ ba tối nghĩa, không hiểu sao lại dung tượng con chim ở đây. Mỗi nhà giải thích một khác : Chu Hi bảo “trong thực, ngoài hư như con chim bay”, có lẽ vì cho hai hào âm ở dưới như hai chân chim, hai hào âm ở trên như hai cánh chim xòe ra ? Còn về ý nghĩa thì có người giảng : người quân tử ở thời Tiểu quá nên khiêm tốn, không nên có tiếng tăm quá lớn, chỉ nên như tiếng chim kêu khi bay, thoáng qua mà thôi, mà cũng không nên ở ngôi cao, như con chim không nên bay lên cao. Hai chữ “đại cát”, các sách đều dịch là rất tốt; Phan Bội Châu dịch là tốt cho người quân tử, nếu đừng có tiếng tăm, đừng ở ngôi cao. “Đại” đó trỏ người quân tử.

Đại tượng truyện giảng : Chấn ở trên Cấn là tiếng sấm ở trên núi, bị nghẹt vì núi mà thu hẹp lại, nên gọi là Tiểu quá. Người quân tử ở thời này chỉ nên làm quá trong những việc nhỏ, như có thể quá cung kính, quá thương cảm trong việc ma chay, quá tiết kiệm.

Hào từ :

1. Sơ lục : Phi điểu dĩ hung

Dịch : Hào 1, âm : Chim (nên nấp mà lại) bay, nên xấu.

Giảng : hào này âm nhu, bất tài, được hào 4, dương, giúp, lại ở thời “hơi quá” (Tiểu quá), nên hăng hái muốn làm việc quá, e mắc vạ, cho nên xấu. Chỉ nên làm chim nấp, đừng làm chim bay.

2. Lục nhị : Quá kỳ tổ, ngộ kỳ tỉ, bất cập kỳ quân.

Ngộ kỳ thần, vô cửu.

Dịch : Hào 2, âm : Vượt qua ông mà gặp bà; không được gặp vua thì nên giữ phận bề tôi, như vậy không lỗi.

Giảng : Hào này nhu thuận, trung chính, ở vào thời Tiểu quá, có một chút mà không lỗi. Nó là âm đáng lẽ cầu dương, mà nó vượt hai hào dương (3 và 4) để gặp (ứng với 5) nghĩa là gặp âm nữa, cho nên cho nên Hào từ nói là vượt ông mà gặp bà. Hào từ khuyên hào này ở thấp, là phận làm tôi, không gặp được vua thì cứ giữ phận bề tôi (đứng và hàng những bề tôi khác).

Hào này tối nghĩa, chúng tôi dịch theo Phan Bội Châu; Chu Hi giảng là : không gặp được vua thì gặp bề tôi, như vậy là giữ được trung, chính, tuy hơi quá (vì muốn gặp vua) mà không lỗi (sau gặp bề tôi). Cả hai cách giảng đều không xuôi.

3. Cửu tam : Phất quá phòng chi, tòng hoặc tường chi, hung.

Dịch : Hào 3, dương : Chẳng quá phòng bị (tiểu nhân) thì rồi sẽ bị chúng làm hại đấy.

Giảng : Thời Tiểu quá; tiểu nhân nhiều hơn quân tử, nên đề phòng quá cẩn thận thì tốt. Hào này dương cương đắc chính là quân tử, nhưng vì quá cương (dương ở vị dương), tự thị, không đề phòng cẩn thận nên bị vạ. Hào này xấu nhất trong quẻ vì bị 2 hào âm ở trên ép xuống, 2 hào âm ở dưới thúc lên, chỉ có mỗi hào 4 là bạn, mà chẳng giúp được gì.

4. Cửu tứ : vô cữu, phất quá ngộ chi, văng lệ, tất giới

 

Vật dụng vĩnh trinh

Dịch : hào 4, dương : không lỗi vì không quá dương mà vừa đúng với đạo lý thời Tiểu quá, nếu tiến tới thì nguy, nên răn về điều đó, đừng cố giữ đức cương của mình, mà nên biến thông.

Giảng : hoàn cảnh hào này y hệt hào 3 ; cũng bị 2 hào âm ép ở trên, 2 hào âm thúc ở dưới, và cũng ở chỗ chưa dứt được với nội quái, chưa lên hẳn được ngoại quái, đáng lẽ cũng xấu, nhưng nhờ 4 tuy dương mà ở vị âm, như vậy là hơi biết mềm dẻo, không quá cương như 3, đúng với đạo lý thời Tiểu quá, cho nên không có lỗi.

Tuy nhiên phải nhớ đừng tiến lên mà theo hai hào âm, như vật là quá nhu mất, sẽ nguy, mà cũng đừng cố chấp giữ tính dương cương của mình, mà nên biến thông.

5. Lục ngũ : một vân bất vũ, tự ngã tây giao

Công dặc, thủ bỉ tại huyệt

Dịch : Hào 5, âm : mây kịt mà không mưa ở cõi tây của ta, ông bắn mà bắt lấy nó ở hang.

Giảng : âm dương tiếp xúc với nhau thì mới thành mưa, nay âm lên quá cao rồi (hào 5), dương ở dưới, âm dương bất hòa, có cái tượng mây kịt mà không mưa ở cõi tây của ta (như Thoán từ quẻ Tiểu súc số 9), đại ý là không làm được gì cả : vì là âm nhu, bất tài lại ở vào thời âm nhiều quá. Chỉ có một cách là xuống tìm hào 2, cũng âm, mà làm bạn. Chữ công (ông) ở đây trỏ hào 5, “bỉ” (nó) trỏ hào 2, hào 2 ở vị âm, tối tăm cho nên ví với cái hang.

6. Thượng lục : phất ngộ quá chi, phi điểu li chi.

Hung, thị vị tai sảnh

Dịch : hào trên cùng, âm : không đúng với đạo mà lại sai quá, như con chim bay cao quá, xa quá, sợ bị tai vạ

Giảng : hào này âm nhu, mà hiếu động vì ở ngoại quái Chấn (động), lại ở vào cuối thời Tiểu quá, là thái quá, cho nên bảo là sai đạo quá ; có cái tượng con chim bay cao quá, xa quá rồi ; khó kéo lại được mà còn sợ bị tai vạ nữa. Hào 6 này là tiểu nhân, tiểu nhân mà vượt lên trên quán tủ (dương, hào 4), cho nên răn là sẽ bị tai họa.

Quẻ này khuyên quân tử ở vào thời tiểu nhân, quá nhiều thì đừng nên quá cương như hào 3, mà nên mềm mỏng một chút, biến thông như hào 4.

 

63. QUẺ THỦY HỎA KÍ TẾ

Trên là Khảm (nước), dưới là Li (lửa)

Quá là hơn, tài đức có chỗ nào hơn người trong một việc gì đó thì làm nên việc ấy, cho nên sau quẻ Tiểu quá tới quẻ Kí Tế. Tế là vượt qua sông, là nên ; kí tế đã vượt qua, đã nên, đã thành.

Thoán từ

Kí tế : hanh tiểu, lợi trinh. Sơ cát, chung loạn

Dịch : đã xong : hanh thông, nếu làm nốt các việc nhỏ, cố giữ được những việc đã thành rồi thì mới lợi. Mới đầu tốt, cuối cùng thì loạn (nát bét)

Giảng : trong thoán từ này, hai chữ Hanh tiểu , Chu Hi ngờ là “tiểu hanh” mới đúng ; tiểu hanh mới là việc nhỏ, được hanh thông. Chúng tôi cho cách hiểu của Phan Bội Châu (theo Thoán truyện) là đúng hơi, nên dịch như trên.

Quẻ này trên là nước, dưới là lửa. Lửa có tính bốc lên mà ở dưới nước, nước thì xảy xuống, thế là nước với lửa giao với nhau, giúp nhau mà thành công. Cũng như nồi nước để ở trên bếp lửa, lửa bốc lên mà nước mới nóng, mới sôi được.

Lại xét sáu hào trong quẻ : hào dương nào cũng ở vị dương, hào âm nào cũng ở vị âm, mà hào nào cũng có ứng viện : 1 dương, có 4 âm ứng ; 2, âm, có 5, dương, ứng ; 3, dương,có 6, âm ứng ; đâu đó tốt đẹp cả, mọi việc xong xuôi, thế là hanh thông.

Ở vào thời Kí tế, việc lớn đã xong, còn những việc nhỏ cũng phải làm cho xong nữa, thì mới thật là hoàn thành. Hoàn thành rồi lại phải cố giữ được sự nghiệp ; nếu không thì chỉ tốt lúc đầu thôi mà rốt cuộc sẽ nát bét. Nghĩa là lúc trị phải lo trước tới lúc loạn.

Thoán truyện giảng mới đầu tốt vì hào 2 ở nội quái có đức nhu thuận mà đắc trung ; và rốt cuộc sẽ loạn vì ngừng không tiến nữa, không đề phòng nữa (chung chỉ tắc loạn)

Đại tượng truyện cũng căn dặn phải phòng trước lúc loạn, lúc suy.

Hào từ

1. Sơ cửu : duê kì luận, nhu kì vĩ, vô cữu

Dịch : hào 1, dương : kẻo lết bánh xe (chậm lại), làm ướt cái đuôi, thì không có lỗi

Giảng : hào này là dương, có tài, ở trong nội quái Li (lửa) co tính nóng nảy, lại ở đầu quẻ Kí tế, có chí cầu tiến quá hăng. Nên hào từ khuyên phải thận trọng, thủng thẳng (kéo lết bánh xe lại), chưa qua sông được đâu (như con chồn ướt cái đuôi, không lội được), như vậy mới khỏi có lỗi.

2. Lục nhị : phụ táng kì phất, vật trục, thất nhật đắc

Dịch : hào 2, âm : như người đàn bà đánh mất cái màn xe, đừng đuổi theo mà lấy lại cứ đợi bảy ngày sẽ được

Giảng : hào này ở giữa hào nội quái Li, có được văn minh, trung chính, có thể thực hiện được chính mình. Nó ứng với hào 5 dương cương, trung chính, ở địa vị chí tôn, nhưng ở thời Kí tế, đã xong việc, nên 5 không đoái hoài tới 2, thành thử 2 như người đàn bà có xe để đi, mà đánh mất cái màn che bốn mặt xe, không đi được. Tuy nhiên vì 2 trung chính mà đạo trung, chính không bị bỏ lâu bao giờ, nên đừng mất công theo đuổi, cứ đợi rồi tự nhiên sẽ được như ý.

3. Cửu tam : cao tôn phạt Quỉ Phương tam niên.

Khắc chí, Tiểu nhân vật dụng

Dịch : hào 3, dương : vua Cao Tôn đánh nước Quỉ Phương, ba năm mới được, đừng dùng kẻ tiểu nhân.

Giảng : hào này là dương ở vị dương, nên quá cương cường, hóa ra khinh suất, phải thận trọng như vua Cao Tôn, tức Vũ Đinh (1324 – 1264) nhà Ân, khi đánh một rợ nhỏ là Quỉ Phương mà cũng mất ba năm mới được

Đừng dùng kẻ tiểu nhân là kời khuyên chung, chứ không phải chỉ riêng hào 3 này.

4. Lục tứ : chu hữu y như, chung nhật giới

Dịch : Hào 4, âm : thuyền bị nước vào, có giẻ để bít lỗ, phải răn sợ suốt ngày

Giảng : đã bắt đầu lên ngoại quái Khảm, nguy hiểm, phải phòng bị cẩn thận, như người ngồi chiếc thuyền bị nước vào, phải có giẻ để bít lỗ. Hào này âm nhu, ở vị âm, đắc chính, là người thận trọng biết lo sợ.

5. Cửu ngũ : đông lân sát ngưu, bất như tây lân

Chi thựơc tế , thực thụ kì phúc.

Dịch : hào 5, dương : hàng xóm bên đồng mổ bò (làm tế lễ lớn) mà thực tế không hưởng được phúc bằng hàng xóm bên tây chỉ tế lễ sơ khai

Giảng : hàng xóm bên đông là hào 5, bên tây là hào 2. Cả hai hào đều đắc trung, đắc chính, lòng chí thành ngang nhau ; 5 ở địa vị chí tôn làm tế lễ lớn, nhưng được hưởng phúc thì 2 lại hơn 5, chỉ vì 2 gặp thời hơn : 2 ở vào đoạn đầu Kí Tế sức tiến còn mạnh, tương lai còn nhiều ; 5 ở vào gần cuối Kí tế, lại ở giữa quẻ Khảm (hiểm), tiến tới mức chót rồi, sắp nguy, thịnh cực rồi thì phải suy.

6. Thượng lục : nhu kì thủ, lệ

Dịch : hào trên cùng, âm : ướt cái đầu, nguy

Giảng : tiểu nhân bất tài (hào này là âm) ở thời cuối cùng của Kí Tế, lại ở trên hết quẻ Khảm, càng nguy nữa, như một người lội qua sông, nước ngập cả đầu.

 

ù

 

Kí tế vốn là một quẻ tốt, nhưng chỉ ba hào đầu là khá tốt, còn ba hào sau thì càng tiến lên càng xấu : hào 5, kém phúc hào 2, mà hào trên cùng (ướt đầu) so với hào 1 (ướt đuôi) còn xấu hơn nhiều. Vẫn là lời khuyên gặp thời thịnh phải cẩn thận , đề phòng lúc suy.

 


64. QUẺ HỎA THỦY VỊ TẾ

Trên là Li (lửa), dưới là Khảm (nước)

Kí tế là qua sông rồi, xong rồi, cùng rồi, nhưng theo luật thiên nhiên, không có lẽ nào hết hẳn được, hết mùa này đến mùa khác, hết thời này đến thời khác, hết lớp này đến lớp khác, sinh sinh hóa hóa hoài, cứ biến dịch vô cùng ; do đó sau quẻ Kí tế tới quẻ Vị tế : chưa qua sông, chưa xong, chưa hết.

Thoán từ

Vị tế : hanh. Tiểu hồ ngật tế, nhu kì vĩ, vô du lợi

Dịch : chưa xong, chưa cùng : được hanh thông. Con chồn nhỏ chuẩn bị vượt qua sông mà đã ướt cái đuôi, không qua được, không có gì lợi cả.

Giảng : quẻ này trái hẳn quẻ trên : lửa ở trên nước, nước và lửa không giao nhau, không giúp được nhau; cả 6 hào đều ở trái ngôi cả : dương ở vị âm, mà âm ở vị dương, cho nên gọi là Vị tế chưa xong.

Vị tế chứ không phải là bất tế, chưa qua sông được chứ không phải là không qua được, sẽ có thời qua được , lúc đó sẽ hanh thông. Thời đó là thời của hào 5, có đức như trung, biết thận trọng mà ở giữa quẻ Li (thời văn minh). Vả lại tuy 6 hào đều trái ngôi, nhưng ứng viện nhau cương nhu giúp nhau mà nên việc : thêm một lẽ hanh thông nữa.

Thoán từ khuyên đừng nên như con chồn con, nóng nảy hấp tấp, mới sửa soạn qua sông mà đã làm ướt cái đuôi, không qua được nữa, không làm được việc gì lợi cả, không tiếp tục được đến cùng.

Đại tượng truyện khuyên phải xem xét kỹ càng mà đặt ngừơi, vật vào chỗ thích đáng,thì mới nên việc , đừng đặt lửa ở trên nước chẳng hạn như quẻ này.

Hào từ

1. Sơ lục : nhu kì vĩ, lận

Dịch : hào 1, âm : để ướt cái đuôi, đáng ân hận

Giảng : âm nhu, tài kém, ở vào đầu thời vị tế, mà lại bước chân vào chỗ hiểm (khảm), như con chồn sắp sửa qua sông mà đã làm ướt cái đuôi, không biết tính trước, phải ân hận.

2. Cửu nhị : duệ kì luân, trinh, cát

Dịch : hào 2, dương : kẻo lết bánh xe, giữ đạo trung chính thì tốt.

Giảng : dương cương là có tài, ở vị âm là bất chính, thấy hào 5 ở ngôi tôn, ứng với mình mà âm nhu, có ý muốn lấn lướt 5, như vậy sẽ hỏng việc, cho nên hào từ khuyên nên giảm tính cương của mình đi (kéo lết bánh xe, hãm bớt lại) và giữ đạo trung của mình (hào 2 đắc trung) thì tốt, vì hễ trung thì có thể chính được.

3. Lục tam : vị tế : trinh hung, lợi thiệp đại xuyên

Dịch : hào 3, âm : chưa thành đâu, nếu cứ tiến hành thì bị họa, vượt qua sông lớn thì lợi.

Giảng : âm nhu, vô tài, lại bất trung, bất chính, không làm nên việc đâu, nếu cứ tiến hành thì xấu. Nhưng đã cảnh báo : tiến hành thì xấu mà sao lại bảo qua sông lớn thì lợi? Mâu thuẫn chăng? Vì vậy mà có người ngờ trước chữ lợi, thiếu chữ bất vượt qua sông lớn thì không lợi mới phải.

Có thể giảng như vầy : xét về tài đức của 3 thì không nên tiến hành, nhưng xét về thời của 3 : ở cuối quẻ Khảm, là sắp có cơ thoát hiểm, hơn nữa trên có hào 6 dương cương giúp cho, thì sắp có cơ hội vượt qua sông lớn được. Lúc đó sẽ có lợi.

4. Cửu tứ : trinh, cát, hối vong. Chấn dụng phạt

Quỉ Phương, tam niên, hữu thưởng vu đại quốc

Dịch : hào 4, dương : giữ đạo chính thì tốt, hối hận mất đi. Phấn phát (chấn) tinh thần, cỗ vũ dũng khí mà đánh nước Quỉ Phương, lâu ba năm, nhưng rồi được nước lớn thưởng cho.

Giảng : có tài dương cương, mà ở vào thời thoát khỏi hiểm (nội quái Khảm), tiến lên cõi sáng sủa văn minh (ngoại quái Li), trên có hào 5, âm, là ông vua tin cậy mình, thì đáng lẽ tốt. Chỉ vì hào 4 này bất chính (dương ở vị âm) nên khuyên phải giữ đạo chính. Lại khuyên phải phấn phát tinh thần và kiên nhẫn mới làm được việc lớn cho xã hội, như việc đánh nước Quỉ Phương thời vua Cao Tôn (coi hào 3, quẻ Kí tế) ba năm mới thành công.

5. Lục ngũ : trinh, cát, vô hối. Quân tử chi quang hữu phu, cát

Dịch : hào 5, âm : có đức trung chính, tốt, không có lỗi. Đức văn minh của người quân tử do chí thành mà rực rỡ, tốt.

Giảng : hào này âm ở vị dương là bất chính, nhưng vì âm nhu, đắc trung (trung còn tốt hơn chính) ở vào giữa ngoại quái Li, là có đức văn minh rực rỡ, lại ứng với hào 2 đắc trung, dương cương ở dưới, nên hai lần được khen là tốt : lần đầu vì có đức trung, văn minh ; lần sau vì có lòng chí thành, hết lòng tin ở hào 2.

6. Thượng cửu : hữu phu vu ẩm tửu, vô cứu

Nhu kì thủ, hữu phu, thất thị.

Dịch : hào trên cùng, dương : tin tưởng chờ đợi như thong thả uống rượu chơi thì không lỗi; nếu quá tự tin mà chìm đắm trong rượu chè (ướt cái đầu) thì là bậy.

Giảng : dương cương ở trên cùng quẻ là cương tới cùng cực, cũng ở cuối ngoại quái Li là sáng đến cùng cực, đều là quá cả. Sắp hết thời vị tế rồi, mà hào 4 và 5 đã làm được nhiều việc rồi, hào 6 này chỉ nên tự tín, lạc thiên an mệnh, vui thì uống rượu chơi mà chờ thời, như vậy không có lỗi. Nếu quá tự tín đến mức chìm đắm trong rượu chè (như con chồn ướt cái đầu), không biết tiết độ thì mất cái nghĩa, hoá bậy

 

ù

 

Kinh dịch bắt đầu từ hai quẻ Càn, Khôn, gốc của vạn vật; ở giữa là hai quẻ hàm và hằng, đạo vợ chồng, gốc của xã hội, tận cùng bằng hai quẻ Kí Tế và Vị Tế đã xong rồi lại chưa xong ; như vậy là hàm cái nghĩa việc trời đất cũng như việc của loài người, không bao giờ xong ; cái gì tới chung rồi lại tiếp ngay tới thủy. Mà đạo dịch cũng vậy không bao giờ hết. Dịch cho ta niềm hy vọng ở tương lai. Thật là một triết lý lạc quan.

Up
Down

Copyright © 2007 TreToday.net