51. QUẺ THUẦN CHẤN

Trên dưới đều là chấn (sấm, động)

Vạc là một đồ dùng quan trọng trong nhà, làm chủ giữ nó, không ai bằng con trai trưởng, cho nên sau quẻ Dỉnh tới quẻ Chấn. Chấn là sấm mà cũng là trưởng nam (có người cho là thiếu nam)

 

Thoán từ:

 

Chấn hanh. Chấn lai hích hích, tiểu ngôn ách ách.

 

Chấn kinh bách lí, bất táng chủy sưởng.

Dịch: Sấm động thì hanh thông. Lúc sấm nổ ầm ầm mà nơm nớp lo sợ thì sau sẽ cười nói haha. Sấm động trăm dặm mà không mất muỗng và rượu nghệ (dồ tế thần).

Giàng: Sấm phát động thì vạn vật mới nảy nở, cho nên bảo là hanh thông.

Khi có điều gì kinh động mà nơm nớp lo sợ, giữ gìn sửa mình thì không bị tai hoạ mà sau sẽ được vui vẻ. Sấm vang động xa đến trăm dặm, mà tinh thần vẫn vững, không đến nỗi đánh mất đồ tế thần (cái muỗng và rượu làm bằng lúa mạch hoà với nghệ) thế là tốt, hanh thông. Nói đến việc tế thần là để diễn cái ý: giữ được tôn miếu, xã tắc.

Hào từ:

 

Sơ cửu: Chấn lai hích hích, hậu tiếu ngôn ách ách, cát.

Dịch: Hào 1, dương: lúc sấm nổ ầm ầm mà nơm nớp lo sợ thì sau sẽ cười nói haha, tốt.

Giảng: Hào này ở đầu thời sấm động. Hào từ y hệt Thoán từ, chỉ thêm hai chữ “hậu” (sau) và “cát” (tốt).

 

Lục nhị: Chấn lai, lệ; ức táng bối, tê vu cửu lăng;

 

vật trục, thất nhất đắc

Dịch: Hào 2, âm: sấm nổ, có nguy cơ, e mất của chăng, (sợ hãi chạy lên chín từng gò để tránh; dù mất của nhưng đừng đuổi theo, bảy ngày sẽ được.

Giảng: Hào này âm nhu lại cưỡi lên hào 1 dương cương, nhút nhát, sợ 1 áp bức, e có cơ nguy, lại ngại mất của, nên phải tránh xa (lên chín tầng gò); nhưng nó vốn trung chính, khéo xử nen đừng quá lo mà khiếp sợ, cứ bình tĩnh, dú có mất tiền, sau cũng lấy lại được.

 

Lục tam: Chấn tô tô, chấn hành vô sảnh.

Dịch: Hào 3, âm: Sấm động mà sinh thác loạn; cứ tránh đi, bỏ điều bất chính thì không bị hoạ.

Giảng: Hào âm, ở vị dương, là hạng người bất chính, nên lo sợ tới thác loạn, nếu trở về đường chính thì khôngbị tai hoạ.

 

Cửu tứ: Chấn, toại nê.

Dịch: Hào 4, dương: sấm động, bị say mê chìm đắm.

Giảng: Hào dương này, bất trung, bất chính, mà lại bị hãm vào giữa bốn hào âm, hai ở trên, hai ở dưới, nên gặp việc chấn động, lo sợ, không tự thoát được, chỉ chìm đắm thôi.

 

Lục ngũ: Chấn vãng lai, lệ; ức vô táng, hữu sự.

Dịch: Hào 5, âm: sấm tới hay lui cũng đều thấy nguy, cứ lo (ức) sao cho khỏi mất đức trung (vô táng), thì làm được công viêc.

Giảng: Hào âm, hay lo sợ, chỉ thấy toàn là nguy, nhưng ở vị 5, có đức trung; cứ giữ đức đó thì sấm tới hay lui (vãng lai cũng có thể hiễu là hào 5 này tới hay lui) cũng không sao mà còn làm được công việc nữa.

 

Thượng lục: Chấn tác tác, thị quắc quắc, chinh hung.

 

Chấn bất vu ki cung, vu ki lân, vô cu71, hôn cấu hữu ngôn.

Dịch: Hào trên cùng: sấm động mà kinh hoảng, mắt nhớn nhác, nếu đi tới (hành động) thì xấu. Nếu đề phòng trước từ khi sự chấn động chưa tới bản thân mình, mới tới nhà hàng xóm, thí không lầm lỗi, mặc dầu bà con có kẻ chê cười mình.

Giảng: Hào này âm nhu, gặp hoàn cảnh cực kỳ chấn động (vì ở trên cùng quẻ Chấn) cho nê có vẻ quá sợ sệt, mà không có tài nên không hành động gì cả, chỉ nên đề phòng trước thôi. Bốn chữ “hôn cấu hữu ngôn” Chu Hi hiểu là nói về việc gả cưới, không khỏi có lời ngờ vực; các sách khác đều hiểu là bị bà con (hôn cấu) chê cười. Tại sao chê cười? Tại sao hào này nhút nhát? Tại không dám hành động chăng?

 

 

52. QUẺ THUẦN CẤN

Trên dưới đều là Cấn (núi)

Không thể động hoài được, sẽ tới lúc phải ngưng, cho nên sau quẻ Chấn tới quẻ Cấn. Cấn có nghĩa là núi, núi đứng yên một chỗ, cho nên cũng có nghĩa là ngừng lại.

Thoán từ:

 

Cấn kì bối, bất hoạch kì thân, hành kì đình

 

bất kiến kì nhân, vô cữu.

Dịch: Ngừng ở cái lưng (tĩnh như cái lưng) không thấy được thân mình, đi ở trước sân, không thấy có người, không có lỗi.

Giảng: quẻ này vốn là quẻ Khôn, lấy nét thứ ba dương của quẻ Càn thay vào nét thứ ba âm của quẻ Khôn mà thành một nét dương ở trên, hai nét âm ở dưới; nét dương ngưng lại ở trên, hai nét âm cũng bị chặn ở dưới, cho nên dặt tên là quẻ Cấn (ngừng).

Trong thân thể người ta, đầu, cồ, tay, chân thường động đậy, chỉ có lưng là thường tĩnh; dó là nghĩa ba chữ “cấn kì bối”.

Hễ tĩnh thì không bị tình dục chi phối, không làm điều ác; tĩnh thì không nghĩ tới mình (bất hoạch kí thân), mà cũng quên cả người khác (như đi ở trước sân mà không thấy có người), tức là không phân biệt mình với người, như vậy thì không có lỗi.

Thoán truyện giảng thêm: Lúc đáng ngừng thì ngừng, đáng đi thì đi (tức là biết tiến tới chỗ phải ngừng lại), động tĩnh đều hợp thời. lại phải biết ngừng ở chỗ đáng ngừng, ví dụ cư xử với người cố đạt cho được đức nhân, đức tín, như vậy là biết ngừng ở chỗ đáng ngừng. Không phân biệt mình với người, coi nhân ngã chỉ là nhất thể (cũng như nội quái là Cấn, ngoại quái cũng là Cấn, cùng một thể với nhau, theo cách giải nghĩa của Thoán truyện), đó là nghĩa sâu sắc của quẻ Cấn.

Đại tượng truyện khuyên người quân tử chỉ nên ngừng ở chỗ làm trọn bổn phận của mình và đừng trật ra ngoài bổn phận của mình (bất xuất kì vị).

Hào từ:

 

Sơ lục: Cấn kì chỉ, vô cữu, lợi vĩnh trinh.

Dịch: Hào 1, âm: biết ngừng ở ngón chân thì không có lỗi, giữ bền được chính đạo thì có lợi.

Giảng: hào âm này ở dưới cùng quẻ Cấn ví như ngón chân; lúc mới bắt đầu động mà biết cẩn thận, ngưng lại thì không có lỗi. Sở dĩ khuyên như vậy vì hào 1 bất chính (âm ở vị dương). Mà phải kiên nhẫn giữ chính đạo thì mới có lợi.

 

Lục nhị: Cấn kì phi, bất chửng kì tuỳ, tâm bất khoái

Dịch: Hào 2, âm: ngăn ở bắp chân, không cứu được bắp vế mà mình phải theo nó, lòng không vui.

Giảng: Hào này ở trên hào 1, như bắp chân; nó đắc trung, đắc chính, biết lúc nào nên ngưng, nhưng nó tùy thuộc hào 3 ở trên nó, như bắp vế ở trên bắp chân (vế cử động thì bắp chân cử động theo), mà 3 thì lầm lỗi không sửa được, phải theo một kẻ lầm lỗi thì lòng không vui.

 

3. Cửu tam: Cấn kì hạn, liệt kì di (cũng đọc là dần), lệ huân tâm

Dịch: Hào 3, dương: Ngăn ở lưng quần (ngang thận), như bị đứt ở giữa xương sống, nguy khốn, lo như cháy cả ruột.

Giảng: Hào này ở trên cùng nội quái, như ở chỗ lưng quần, nơi phân cách trên và dưới. Nó là dương cương, bất trung, tiến lên thì người trên không nghe, lui xuống cũng không được, như bị đứt ở giữa xương sống, rất nguy khốn.

4. Lục tứ: Cấn kì thân, vô cữu.

Dịch: Hào 4, âm: Ngăn phần thân mình, không có lỗi.

Giảng: Hào này lên đến giữa thân mình, nó đắc chính (âm ở vị âm) biết lúc nên ngừng thì ngừng, tuy không làm được việc gì, nhưng không có lỗi.

5. Lục ngũ: Cấn kì phụ, ngôn hữu tự, hối vong.

Dịch: Hào 5, âm: Ngăn cái mép lại (có sách dịch là xương hàm), ăn nói có thứ tự, hối hận mất đi.

Giảng: Hào này lên tới mép, đắc trung, biết thận trọng lời nói, lúc nào không đáng nói thì không nói, nên không có gì hối hận.

6. Thượng cửu: Đôn cấn, cát.

Dịch: Hào trên cùng, dương: Đôn hậu về đạo, biết ngưng phải lúc, tốt.

Giảng: Hào này ở trên cùng, làm chủ quẻ dương cương, có tính đôn hậu, biết lúc nào nên ngừng thì ngừng, tốt.

*

Phan Bội Chau luận rằng trong Kinh Dịch có tám quẻ mà ngoại quái là Cấn, tức các quẻ: Bĩ, Bác, Đại súc, Cổ, Di, Tổn, Mông và quẻ Thuần Cấn này. Mà hào trên cùng của tám quẻ đó đều tốt.

Như vậy Kinh Dịch rất trọng núi, vì núi có đức “trọng hậu”.

Chúng tôi nghĩ có thể cũng vì lẽ núi có đức “tĩnh” nữa. Dịch học phái như Khổng giáo chủ trương hữu vi (hành động để giúp đời), nhưng cũng trọng đức tĩnh, tĩnh như núi. Tĩnh là không bị thị dục dao động mà ít lỗi, tĩnh thì mới sáng suốt. Đạo Lão rất trọng đức tĩnh. Dịch học phái trọng động mà cũng trọng tĩnh, là dung hòa được hai triết lí lớn nhất của Trung Hoa.

Chúng tôi lại nhớ tới câu: “Trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn” trong Luận ngữ (VI, 20). Khổng và Lão dễ trung hòa với nhau là phải.

 

53. QUẺ PHONG SƠN TIỆM

Trên là Tốn (gió), dưới là Cấn (núi)

Ngừng rồi thì có lúc phải tiến lần lần, cho nên sau quẻ Cấn tới quẻ Tiệm. Tiệm là tiến lần lần.

Thoán từ:

 

Tiệm: Nữ qui, cát; lợi trinh.

Dịch: Tiến lần lần: như con gái về nhà chồng, tốt; giữ vững đạo chính thì lợi.

Giảng: Quẻ này trên là Tốn (ở đây có nghĩa là cây), dưới là Cấn (núi). Trên núi có cây, có cái tượng dưới thấp lần lần lên cao, nen đặt tên là Tiệm.

Cấn còn có nghĩa là ngăn, Tốn còn có nghĩa là thuận, ngăn ở dưới mà thuận ở trên, để cho tiến, nhưng không cho tiến vội, mà tiến lần lần thôi. Như trường hợp con gái về nhà chồng. Việc gả con phải thận trọng, thung dung, không nên hấp tấp, có vậy mới tốt.

Xét bốn hào ở giữa quẻ, từ 2 tới 5, từ dưới tiến lên, hào nào cũng đắc chính (hào âm ở vị âm, hào dương ở vị dương), nhất là hào 5, dương cương, đắc chính, lại đắc trung, rồi tới hào 2, âm nhu cũng đắc chính, đắc trung; cho nên Thoán từ khuyên giữ vững đạo chính như những hào đó thì tốt

Tiến mà lần lần, không nóng nảy, vẫn tĩnh như nội quái Cấn, vẫn hoà thuận như ngoại quái Tốn thì không vấp váp, không bị khốn cùng.

Đại tượng truyện khuyên người quân tử nên theo tượng quẻ này mà tu thân, tiến lần lần cho được thành người hiền, rồi thành bậc thánh, để cải thiện phong tục cho dân (Quân tử dĩ cư hiền đức, thiện tục).

Hào từ:

1. Sơ lục: Hồng tiệm vu can, tiểu nhân lệ, hữu ngôn, vô cữu.

Dịch: Hào 1, âm: Con chim hồng tiến đến bờ nước, nhỏ dại (hoặc tiểu nhân) cho là nguy, than thở, nhưng không có lỗi.

Giảng: Hồng là loài chim sống ở mặt nước, di thê, mùa lạnh thì bay xuống phương Nam, mùa nóng trở về phương Bắc, bay từng đàn, có thứ từ; sáu hào quẻ Tiệm đều tượng trưng bằng chim hồng.

Hào 1 âm nhu, ở dưới cùng, như chim hồng mới tiến được tới bờ nước, than thở không tiến được mau, cho là nguy, vì còn nhỏ, chưa hiểu biết (tiểu tử), sự thực thì tuy chưa tiến được mấy, nhưng vẫn không tội lỗi gì.

2. Lục nhị: Hồng tiệm vu bàn, ẩm thực khản khản, cát.

Dịch: Hào 2, âm: Chim hồng tiến đến phiến đá lớn, ăn uống thảnh thơi, tốt.

Giảng: Hào này đắc trung, đắc chính, âm nhu mà ứng với hào 5 dương cương ở trên, nên tiến được một cách dễ dàng, tới đậu ở phiến đá lớn, vui vẻ, ung dung.

Tiểu tượng truyện khuyên hào này được hào 5 giúp đỡ thì phải làm gì đáp lại , chứ đừng ăn không.

3. Cửu tam: Hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục,

phụ dựng bất dục, hung; lợi ngự khẩu.

Dịch: Hào 3, dương: Chim hồng tiến tới đất bằng, chồng đi xa không về, vợ có mang (đẻ con mà) không nuôi, xấu; đuổi cướp thì có lợi.

Giảng: Hào này đã tiến lên đến đất bằng, nó dương cương còn muốn tiến nữa, mà không muốn ngó lại; nó ở sát hào 4 âm nhu, thân với 4 nhưng không chính ứng với nhau, mà cả hai đều bất trung, ví như cặp vợ chồng không chính đáng, chồng (hào 3) bỏ vợ mà đi không ngó lại, vợ (hào 4) có mang, đẻ con mà không nuôi, xấu. Nếu hoà thuận với nhau mà giữ đạo chính (trừ cái bất chính đi như trừ cướp) thì có lợi.

4. Lục tứ: Hồng tiệm vu mộc, hoặc đắc kì giốc, vô cữu.

Dịch: Hào 4, âm: Chim hổng nhảy lên cây, may tìm được cành thẳng mà đậu, không có lỗi.

Giảng: Hào 4 âm nhu mà ở trên hào 3 dương cương, như chim hồng bay lên cây cao, không phải chỗ đậu của nó (vì nó vốn ở mặt nước), nhưng may được cành thẳng, thì cũng yên ổn. Hào này bản chất âm, nhu thuận mà lại ngoại quái Tốn cũng có nghĩa thuận, nên được yên ổn.

5. Cửu ngũ: Hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dựng,

chung mạc chi tháng, cát.

Dịch: Hào 5, dương: Chim hồng lên gò cao, vợ ba năm không sinh đẻ, nhưng cuối cùng không gì thắng nổi điều chính, tốt.

Giảng: Hào dương này ở ngôi cao, chính ứng với hào 2, âm ở dưới, như vợ chồng muốn ăn nằm với nhau, nhưng hào 5 bị hào 4 ngăn cản (ghen với 2); hào 2 lại bị hào 3 ngăn cản (ghen với 5), thành thử ba năm vợ chồng bị cách trở mà vợ không có mang được. Nhưng 3 và 4 không thắng được 2 và 5 vì hai và 5 đều đắc trung, mà việc 5 với 2 kết hợp với nhau là chính đáng, nên rất cuộc chúng phải chịu thua.

6. Thượng cửu: Hồng tiệm vu qui, kì vũ khả dụng vi nghi, cát.

Dịch: Hào trên cùng, dương: Chim hồng bay bổng ở đường mây, lông nó (rớt xuống) có thể dùng làm đồ trang điểm, tốt.

Giảng: Theo thường lệ, hào trên cùng, ở trên hào 5 chí tôn, không có “vị” gì cả, vô dụng. Trong quẻ này, nó ở cao hơn cái gò cao, tức ở trên không trung, trên đường mây (van lộ). Nó là hạng xuất thế, khí tiết thanh cao, khác phàm; tuy không trực tiếp giúp đời, nhưng tư cách làm gương cho đời, xã hội có họ thì mới văn minh, cũng như lông con hồng không dùng vào việc ăn uống, cất nhà, cày ruộng, chở đồ... được, nhưng làm đồ trang điểm như cờ, quạt, mũ... thì lại quí.

*

Quẻ này cũng làm rõ nghĩa chữ “thời”, sáu hào là sáu thời khác nhau, có trước có sau, có cao có thấp, hoàn cảnh khác nhau, ý nghĩa khác nhau.

Trong 64 quẻ, không có quẻ nào mà hào trên cùng cho ta một cảm tưởng nhẹ nhàng, khoan khoái như quẻ này. Thật là phơi phới cùng cánh hồng mà bay bổng tuyệt vời. Nên so sánh hào 6 quẻ này với hào 6 quẻ Cổ.

Quẻ Tấn với quẻ Tiệm này nghĩa rất giống nhau: Tấn là tiến lên, Tiệm là tiến lên lần lần; mà lời tiên đoán lại khác nhau xa, thật bất ngờ.

54. QUẺ LÔI TRẠCH QUI MUỘI

Trên là chấn (sấm), dưới là đoái (chằm)

Đã tiến lên thì phải tới, về một nơi nào đó (nơi đó là mục đích); cho nên sau quẻ Tiệm tới quẻ Qui Muội, Qui là về, muội là em gái, Qui muội là em gái về nhà chồng

Thoán từ :

 

Qui muội , chinh hung, vô du lợi

Dịch : con gái nhỏ về nhà chồng, tiến lên thì xấu, không có gì lợi cả

Giảng : Nội quái là Đoái (con gái nhỏ), ngoại quái là chấn (con trai lớn) ; Chấn lại có nghĩa là động, Đoái có nghĩa là vui vẻ, thuận theo ; con gái nhỏ về với trưởng nam, cho nên gọi là Quí muội.

Trai gái phối hợp nhau vốn là “cái nghĩa lớn của trời đất”, vì có vợ chồng rồi mới có gia đình, xã hội. Vậy mà Thoán từ bảo là xấu, vì lẽ :

- Cặp trai gái này không xứng nhau : trai lớn quá (trưởng nam) gái nhỏ quá (muội)

- Tình của họ không chính đáng : gái chỉ vì vui (hòa duyệt, đức của nội quái Tốn) mà tự động (Chấn) theo trai, cũng có thể giảng vì gái cầu trai mà trai đã bị động theo gái ; như vậy là bất chính. Sự bất chính đó còn thấy trên bốn hào ở giữa nữa ; không một hào nào ở vị chính đáng.

- Lại thêm hào 3 và 5 đều là âm mà cưỡi lên dương : 4 và 2, có cái tượng vợ ăn hiếp chồng.

Ngay từ buổi đầu, sự phối hợp đã không được chính đáng thì biết trước được về sau không có gì lợi cả, chỉ tệ hại thôi (Lời Đại Tượng truyện)

Hào từ :

1. Sơ cửu : Qui muội dĩ qui đệ, bả năng lý, chinh cát

Dịch : Hào 1.dương : em gái về nhà chồng làm vợ bé, chân thọt mà đi được, tiến đi thì tốt.

Giảng : ý nghĩa chung của quẻ là xấu, nhưng mỗi hào xấu hay tốt tùy hoàn cảnh. Như hào này dương cung ở vị thấp nhất, không có chính ứng ở trên, nên ví với người con gái nhỏ có đức, nhưng không được làm vợ cả (không có chính ứng : hào 4 cũng là dương), chỉ làm vợ bé thôi, giúp đỡ vợ cả. Vì làm vợ bé, nên bảo là chân thọt, vì giỏi giúp việc nên bảo là đi được. Cứ tiến đi siêng năng giúp việc thì tốt.

Thời xưa các vua chúa cưới một người vợ chính thì có năm ba em gái hay cháu gái cô dâu hay phù dâu rồi ở luôn bên nhà trai, gọi là “đệ”, như vợ bé.

2. Cửu nhị : Diểu (miễu) năng thị, lợi u nhân chi trinh

Dịch : hào 2 dương : chột mà thấy được, âm thầm giữ đức trinh chính thì tốt

Giảng : hào này dương cương đắc trung, là người con gái hiền, trinh ; nhưng chính ứng với hào 5 âm nhu, bất chính, tức như gặp người chồng dở, không dựng nổi cơ đồ, nên ví với người chột mắt. Cứ âm thầm giữ đức trung của mình thì tốt. Đây là hoàn cảnh của một người không gặp thời.

3. Lục tam : qui muội dĩ tu, phản qui dĩ tệ

Dịch : hào 3, âm : em gái về nhà chồng, chờ đợi mãi, nóng lòng trở về làm vợ bé

Giảng : hào này ở trên cùng nội quái, có địa vị, đáng lẽ không phải làm vợ bé. Nhưng vì là âm nhu, bất trung bất chính, mà lại đa tình (ham vui là tính cách của nội quái Đoái), tính nết như thế nên ế chồng, chờ đợi mãi không ai chịu lấy, đành phải trở về làm vợ bé vậy. Kẻ ham công danh, phú quí, cầu cạnh người, kết quả bị người khinh, coi như tôi tớ, cũng giống cô gái trong hào này.

4. Cửu tứ : qui muội, khiêu kì, trì qui, hữu thời.

Dịch : hào4, dương : em gái về nhà chồng, lỡ thời, nhưng dù chậm gả ít lâu, rồi cũng sẽ có lúc gặp được chồng tốt.

Giảng : hào này dương cương, ở ngọai quái là người con gái đã hiền lại sang, nhưng không có hào chính ứng với nó (vì 1 cũng là dương), nên lỡ thời, không sao, cứ đợi giá cao, chậm trễn ít lâu rồi sẽ gặp duyên lành.

5. Lục ngũ : Đế Aát qui muội, kì quân chi duệ, bất

 

Như kì đệ, chi duệ lương, nguyệt cơ vọng, cát

Dịch : hào 5. âm : vua Đế Aát (nhà Thương) cho em gái về nhà chồng, tay áo của công chúc (cô dâu) không đẹp bằng tay áo của cô phù dâu (vợ bé) ; như trăng đêm mười bốn (sắp đến rằm) tốt.

Giảng : hào này âm nhu đắc trung, ở địa vị cao quí mà lại chính ứng với hào 2 dương, địa vị thấp, như nàng công chúa em vua Đế Aát mà hạ giá với bình dân. Đã vậy mà khi rước dâu, y phục của nàng lại không đẹp bằng y phục mấy cô phù dâu (vợ bé). Như vậy là đức hạnh rất cao, không hợm mình địa vị cao quí, lại coi thường phục sức. Đức như vậy thật đẹp, như trăng mười bốn (trăng mười bốn tròn, đẹp mà chưa đầy hẳn ; chưa đầy hẳn có nghĩa là Khiêm hư)

6. Thượng lục : nữ thừa Khuông, vô thực

 

Sĩ khuê dương, vô huyết, vô du lợi.

Dịch : hào trên cùng, âm : (để cúng tổ tiên) người con gái (vợ) xách giỏ mà giỏ không có đồ cúng, người con trai (chồng) cắt cổ con cừu để lấy huyết mà (cắt giả vờ) không có huyết, không có gì lợi cả.

Giảng : năm hào trên, các cô em gái đều về nhà chồng cả rồi, hào này là hào trên cùng, muộn nhất ; mà lại không có chính ứng (hào 3 ứng với nó cũng là âm), không thành vợ chồng chính thức được, chỉ sống bậy bạ với nhau, không có gì lợi cả.

Hồi xưa khi cúng tổ tiên , bổn phận của vợ là dâng đồ cúng, của chồng là dâng huyết cừu; người con gái trong hào này xách giỏ dâng đồ cúng mà giỏ lại trống không, còn người con trai cắt cổ cừu để lấy huyết thì lại cắt giả vờ, không có huyết ; như vậy thì tổ tiên nào chứng giám, trai gái không thành vợ chồng chính thức được. Vì hữu danh mà vô thực.

Hào đẹp nhất trong quẻ là hào 5. Việc kén dâu, kén vợ, trọng người có đức, không hợm mình cao sang, giàu có, coi thường phục sức mà khiêm tốn.

 

ù

 

55. QUẺ LÔI HỎA PHONG

Trên là Chấn (sấm), dưới là Li (lửa)

Qui là về, là tới nơi, tới mục đích, đạt kết quả (qui kết), mà đạt được kết quả thì thịnh lớn, cho nên sau quẻ Qui (muội) tới quẻ Phong (thịnh lớn)

Thoán từ :

 

Phong : hanh. Vương cách chi, vật ưu, nghi nhật trung.

Dịch : thịnh lớn thì hanh thông. Bậc vương giả tới được, đừng lo, nên giữ đạo trung như mặt trời đứng giữa trời.

Giảng : dưới là Li (sáng suốt), trên là chấn (động) sáng suốt mà hành động thì làm nên được sự nghiệp thịnh lớn. Chỉ bậc vương giả có quyền có vị mới làm tới nơi được. Khi đã thịnh lớn thì người sáng suốt biết rằng sẽ phải suy nên thường lo ; nhưng đừng nên lo suông, cứ giữ được đạo trung như mặt trời (nội quái li có nghĩa là mặt trời) đứng ở giữa trời thì sẽ tốt.

Đại Tượng truyện áp dụng vào việc hình ngục, khuyên người trị dân nên sáng suốt mà soi xét tình dân mạnh mẽ xử đoán thì mau xong việc

Hào từ

1. Sơ cửu : ngộ kì phối chủ, tuy tuần, võ cửu, vãng hữu thượng.

Dịch : hào 1, dương : gặp được người chủ hợp với mình, tuy ngang nhau nhưng không có lỗi, tiến đi thì có công nghiệp đáng khen.

Giảng : hào này ở nội quái Li, có đức sáng suốt, có tài (vì là dương), ở trên ứng với hào 4, thuộc ngoại quái Chấn, có đức hoạt động, mà cũng có tài (dương cương). Bình thường thì ứng với nhau, phải một âm một dương mới tốt; ở hào này thì khác ; cùng là dương cả mà cũng tốt, vì một sáng suốt, 4 hoạt động, hai hào tương thành, chứ không tương phản, giúp nhau làm nên sự nghiệp lớn được. Hai hào ngang nhau,biết châm chước ý kiến nhau là điều tốt cho sự hợp tác ; nếu một bên cầu thắng, một bên chỉ nhường thì không còn là hợp tác nữa, khó thành công lớn được.

2. Lục nhị : phong kỳ bộ, nhật trung kiến đẩu

 

Vãng, đắc nghị tật, hữu phu phát nhược, cát

Dịch : Hào 2, âm : bị màn che lớn, dày quá, như ban ngày (mặt trời bị che lấp) mà thấy sao Bắc đẩu ; tiến đi thì bị ngờ và ghét ; cứ lấy lòng chí thành mà cảm hoá được người trên thì tốt.

Giảng : Hào, âm này ở giữa quẻ Li, đắc trung đắc chính ; nhưng kẻ ứng với nó là hào 5, âm nhu bất chính, không giúp được nó; không tin nó; nó như một hiền thần gặp một ám chúa, nên ví với mặt trời (quẻ Li) bị mây mù che dày. Có muốn theo 5 thị bị 5 nghi kỵ và ghét, chỉ có cách giữ vững đức trung trinh, lấy lòng chí thành mà đối xử với 5, rồi sau 5 sẽ tỉnh ngộ. Chữ nhược ở đây trỏ hào 5.

3. Cửu tam : phong kì bái, nhật trung kiến muội.

Chiết kỳ hữu quăng, vô cửu.

Dịch : hào 3 dương : bị màn che kín mít, ban ngày mà thấy sao nhỏ (muội) gẫy cánh tay phải , không có lỗi

Giảng : hào này dương cung, ở trên cùng quẻ Li là người sáng suốt, có tài ; nhưng hào trên cùng ứng với nó lại bất tài (âm nhu); không giúp gì được nó; đã vậy còn bị hào 4 che ám, hoàn cảnh còn tệ hơn hào 2 nữa, cho nên bảo là bị tấm màn che kín mịt, ban ngày mà tối như đêm , thấy được cả những vì sao nhỏ. Như vậy hào 3 như người bị gẫy cánh tay phải (trỏ hào 6 không giúp được gì nó), nó không có lỗi vì hoàn cảnh khiến vậy.

4. Cửu tứ : phong kì bộ, nhật trung kiến đẩu, ngộ kì di chủ, cát

Dịch : hào 4, dương : bị màn che lớn dày quá, như ban ngày mà thấy sao Bắc đẩu ; gặp người bạn bằng vai vế, tốt.

Giảng : hào này dương cương, ở địa vị cao, có thể lập được sự nghiệp, như bất trung, bất chính lại bị hào 5 âm nhu, hôn ám che lấp hoàn cảnh cũng như hào 2, cũng ban ngày mà thấy sao bắc đẩu, nhưng nay được hào 1 ở dưới đồng đức (cũng dương cương) bằng vai vế ứng với nó, cũng coi là tốt được.

5. Lục ngũ : lai chương, hữu khánh, dự, cát

Dịch : hào 5, âm : mời những nhân tài giúp mình thì được phúc, có tiếng khen, tốt.

Giảng : hào này ở địa vị chí tôn, âm nhu, không có tài, tạo được sự nghiệp thịnh lớn, nhưng khá là có đức trung (ở giữa ngoại quái) và có hào 3, 4 dương cương, hiền tài ở dưới mình, nếu biết mời họ giúp mình thì có phúc và được tiếng khen, tốt.

6. Thượng lục : phong kỳ ốc, bộ kì gia, khuy kì hộ

Huých kì vô nhân, tam tuế bất địch, hung

Dịch : hào trên cùng, âm : cất nóc nhà rất cao lớn mà phòng mình ở lại nhỏ hẹp, bị bưng bít (tự mình không muốn ai lui tới với mình), cho nên nhìn vào cửa, lặng tanh không thấy bóng người, ba năm không thấy ai (hoặc không giác ngộ), xấu

Giảng : hào này khó hiểu, mỗi sách giảng một khác, chúng tôi theo cách hiểu của Phan Bội Châu vì hợp với Tiểu Tượng truyện hơn cả.

Hào này âm nhu, như người hồn ám, mà ở trên cùng, có địa vị rất cao, y như người cất nhà, nóc rất cao (địa vị cao), mà buồng mình lại ở thấp hẹp (bản tính âm nhu), thế là tự mình che lấp mình, nên không ai lui tới nhà mình, do đó mà đứng ở cửa nhìn vào, không thấy bóng người, ba năm không thấy ai (hoặc ba năm vẫn không giác ngộ : địch là thấy rõ). Không gì xấu hơn.

ù

 

Tên quẻ là thịnh lớn, rất tốt mà không có hào nào thật tốt, hào nào cũng có lời răn đe. Cổ nhân muốn cảnh báo chúng ta ở thời thịnh lớn, có phúc thì cũng có sẵn mầm họa, phải cẩn thận lắm mới được.

Các quẻ khác, thường hào dương ứng với âm, âm ứng với dương mới tốt, quẻ này trái lại , dương ứng với dương (như 1 và 4) mới tốt. Đó cũng là một lời khuyên nữa : ở thời thịnh, người ta thường vì quyền lợi chia rẽ nhau mà hóa suy, phải biết đồng đức, đồng tâm với nhau, thì mới tránh được họa.

Up
Down

Copyright © 2007 TreToday.net