
36 . QUẺ ĐỊA HỎA MINH DI
Trên là Khôn (đất), dưới là Li (lửa)

Tiến lên thì có lúc bị tổn thương, cho nên sau quẻ Tấn tiếp tới Minh di. Di nghĩa là thương tổn
Thoán từ
Minh di : Lợi gian trinh
Dịch : Aùnh sáng bị tổn hại, chịu gian nan, giữ điều chính thì lợi
Giảng : Quẻ này ngược với quẻ Tấn ở trên; ma75t trời (li) lặn xuống dưới đất (Khôn) ánh sáng bị tổn hại, tối đi (Minh di)
Ngướiquân tử ở thời u ám này, gặp nhiều gian nan, chỉ có cách giữ đức chính trinh của mình thì mới có lợi. Muốn vậy thì ở trong lòng phải giữ đức sáng mà ở ngoài thì nhu thuậnđể chống với hoạn nạn như tượng của quẻ : Li là sáng văn minh ở nội quái, Khôn là nhu thuận ở ngoại quái. Vua Văn Vương bị vua Tru6 nghi ngờ, giam vào ngục Dữu Lí, tỏ vẻ rất nhu thuận, không chống đối Trụ, mà để hết tâm trí vào việc viết Thoán từ giảng các quẻ trong Kinh Dịch, nhờ vậy Trụ không có cớ gí giết , sau thả ông
Không những ở ngoài tỏ vẻ nhu thuần, mà có khi còn nên giấu sự sáng suốt của mình đinữa mà trong lòngvẫn giữ chí hướng như Cơ Tử một hoàng thân củ Trụ, Trụ vô đạo, Cơ Tử can không được, giả điên, làm nô lệ, để khỏi bị giết, mong có cơ hội tái tạo lại nhà Aân; khi nhà Aân mất, ông không chết với Trụ, cũng không bỏ nước ra đi. Võ vương – con va7n vương – diệt Trụ rối, trọng tư cách của Cơ Tử, mời ông ra giúp nước, ông không chịu; sau Võ vương cho ra ở Triều Tiên, lập một nước riêng. Như vậy Cơ Tử giấu sự sáng suốt của mình để giữ vững ý chí, không làm mất dòng dõi nhà Aân (Hối kì minh, nội nạn nhi năng chính kì chí – Thoántruyện)
Đại Tượng truyện bảo người quân tử gặp thời Minh di, muốn thống ngự quần chúng thì nên dùng cách kín đáomà lại mình thấy rõ (dụng hối nhi minh), nghĩa là dùng thủ đoạn làm ngơ cho kẻ tiểu nhân, đừng rạch ròi, nghiêm khắc quá sẽ bị hại, tóm lại là làm bộ không biết để chúng không nghi ngờ mình để lộ hết dụng tâm của chúng ra mình sẽ biết được. Cơ hồ tác giả của Đại tượng truyên muốn dùng thuật củ Hàm Phi
Hào từ
Sơ cửu : Minh di, vu phi thuỳ kì dực. Quân tử vu hành
tam nhật bất thực, hữu du vãng, chủ nhân hữu ngôn
Dịch : Hào 1 , dương : ở thời u ám ( ánh sáng bị tổn hại ), hào này như con chim muốn bay mà cánh rũ xuống . Người quân tử biết thời cơ thì bỏ đi ngay, dù ( không có tiền ) phải nhịn đói ba ngày,mà đi tới đâu , gặp chủ cũ , cũng bị chủ cũ chê trách.
Giảng : Hào dương ở đầu thời Minh di , là người quân tử gâp thời hắc ám, có thể bị hại như con chim rũ cánh xuống . Cách xử thế là nên bỏ đi ngay , như Phạm Lãi bỏ nước Việt vì biết vua Việt là Câu Tiễn sẽ nghi ngờ mà hại các công thần , nhờ vậy tránh được cái họa bị giết như đại phu Chủng.
Lục nhi : Minh di , di vu tả cổ , dụng chửng mã tráng, cát.
Dịch: Hào 2, âm : Ở thời ánh sáng bị tổn hại, hào này như bị đau ở đùi bên trái , nhưng cũng mau khỏi , sẽ như con ngựa mạnh mẽ tiến lên , tốt .
Giảng : Hào này làm chủ nội quái Li ( sáng suốt ) , đắc trung , đắc chính , là bậc quân tử có tài , nhưng ở thời Minh di , hôn ám < nên bị tiểu nhân làm hại ít nhiều , như bị thương ở đùi bên trái nhưng rồi sẽ mau khỏi ( dụng chửng ) , mà như con ngựa mạnh mẽ.
Tốt vì hào 2 trung , chính , lại vẫn thuận theo ( vì là hào âm ) phép tắc>
“ Dụng chửng mã tráng “ R. Wilhem giảng là : sẽ dùng sức con ngựa mạnh mà giúp đỡ người khác khỏi cơn nguy J. Legge dịch là : tự cứu mình bằng sức một con ngựa mạnh . Chúng tôi theo Chu Hi và Phan Bội Châu .
Cửu tam : Minh di, vu nam thú , đắc kì đại thủ , bất khả tật , trinh.
Dịch : Hào 3 , dương : Ở thời ánh sáng bị tổn hại , di tuần về phương Nam , bắt được kẻ đầu sỏ , nhưng đừng hành động gấp , phải bền chí .
Giảng : Hào này ở trên cùng nội quái Li làcực sáng suốt ; nó là dương cương , ở vị dương , vậy là rất cương kiện , nó ứng với hào âm ở trên cùng quẻ Khôn ( ngoại quái ) , hào này cực hôn ám . Nó sẽ đánh đổ hào âm đó > Nó cứ đem binh đi tuần về phương Nam ( Nam thú : Phan Bội
Châu giảng là đem quân tiến lên phía trước để trừ loạn ) sẽ bắt được tên đầu sỏ phản loạn .Nhưng nó cương cường nóng nảy , nên phải khuyên : đừng gấp , phải bền chí giữ đạo chính .
Lục tứ : Nhập vu tả phúc , hoạch minh .
di chi tâm, vu xuất môn đình .
Dịch : hào 4 , âm : như vô phía bên trái của bụng ( ý nói chỗ u ám ) ; tấm lòng ở thời u ám
( minh di ) là nên bỏ nhà mà ra đi .
Giảng : Hào này âm nhu , ở vào thời Minh di , mà lại vượt quẻ Li , sang quẻ Khôn rồi , tức bỏ chỗ sáng sủa , bước vào chổ tối tăm, cho nên ví như vô phía bên trái của bụng. Nhưng hào này đắc chình ( a^m ở vị âm ) nên có thể rút chân ra khỏi cảnh khốn nạn ấy được : cứ bỏ nhà ra đi, tức
Tránh xa cảnh đó , mặc nó.
Đó là hiểu theo Phan Bội Châu . Chu Hi nhận rằng không thấy được nghĩa hào này .
Lục ngũ : Cơ tử chi Minh di , lợi trinh .
Dịch : hào 5, âm : như ông Cơ Tử ở thời u ám ( Minh di ) , cứ bền giữ đạo chính thì lợi.
Giảng : Thường các quẻ khác , hào 5 là ngôi chí tôn ; quẻ Minh di này hào trên cùng mới là ngôi chí tôn , hào 5 là người thâncận với ngôi chí tôn . Hào trên cùng là ông vua rất hôn ám như vua Trụ , hào 5 là người thân cận có đức trung , như ông Cơ Tử; ông giả điên để khỏi bị vua Trụ hại mà sau giữ được dòng dõi nhà Aân , hư vậy là giử vững đạo chính , ở ngoài làm ra vẻ hôn mê , mà trong lòng vẫn sáng suốt .
Thượng lục : Bất minh di , sơ đăng vu thiên, hậu nhập vu địa.
Dịch : Hào trên cùng , âm : không còn là ánh sáng bị tổn thương nữa , lên cao tới trời mà rồi sụp xuống đất .
Gỉang : Hào trên cùng , âm ; ờ cuối cùng thời Minh di , lại ở trên cùng ngoại quái Khôn , tức như người có địa vị tối cao mà lại hôn ám cùng cực ; như vậy là tối mù mù , chứ không phải chỉ là ánh sáng bị tổn hại ( Minh di ) nửa , cho nên Hào từ bảo là “ bất minh di “ .Có cái tượng lên cao tới trời ( địa vị tối cao ) mà rồi sụp xuống đất .
*
Quẻ này khuyên người quân tử ở thời hắc ám quá thì có thể bỏ nhà , nước mà đi ; hoặn muốn ở lại thì giấu sự sáng suốt của mình mà giử vững đạo chính để chờ thời .
37. QUẺ PHONG HỎA GIA NHÂN
Trên là Tốn ( gió ) , dưới là Li ( lửa )

Di là bị thương : hễ ra ngoài bị thương thì trở về nhà , cho nên sau quẻ Minh di tới quẻ Gia nhân .
Gia nhân là người trong một nhà .
Thoán từ :
Gia nhân : Lợi nữ trinh .
Dịch : Người trong nhà : hễ đàn bà mà chính đáng thì có lợi .
Giảng : Nội quái là Li , sáng suốt ; ngoại quái là Tốn thuận . Ở trong thì sáng suốt , xử trí không hồ đồ , ở ngoài thì thuận , như vậy việc tề gia sẽ tốt đẹp . Nói rộng ra việv nước cũng vậy , vì mỗi nước như một người , cả thế giới như một nhà .
Quẻ này , nội quái Li là trung nữ , ngoại quái Tốn là trưởng nũ (1) ; hào 2 , âm làm chủ nội quái , hào 4, âm làm chủ ngoại quái , hai hào đó đều đắc chính cả , cho nên nói đàn bà mà chính đáng thì có lợi
Tuy chỉ nói “ nữ “ trinh thôi ,nhưng phải hiểu nam cũng cần chính đáng nữa , vì nếu nam không chính đáng , thì nữ làm sao chính đáng được . Cho nên Thoái truyện giải thích : Đàn bà chính đáng ở trong ( ám chỉ hào 2 , âm ở vị âm trong nội quái ) ; mà đàn ông chính đáng ở ngoài ( hào 5, dương , ở vị dương trong ngoại quái ) ; đàn bà lo việv nhà , đàn ông lo việv ở ngoài , cả hai đều giữ đạo chính , đó là hợp với nghĩa lớn của trời đất ( nữ chíng vị hồ nội , nam chính vị hồ ngoại ; nam nữ chính , thiên địa chi đại nhgiã dã ).
Nam nữ là nói chung , gồm cả cha mẹ , con cái, anh chị em , vợ chồng , ai nấy đều phải giữ đạo chính hết , chứ không phải chỉ có người dưới phải chính đáng , chỉ có vợ phải chính đáng , còn người trên, cồng khôn g phải giữ đạo . Cha mẹ cũng có đúng đạo cha mẹ thì con mới đúng đạo con , anh em cũng vậy , chồng vợ cũng vậy , chồng vợ cũng vậy . Thời xưa chẳng riêng ở Trung Hoa mà ở khắp các nước theo chế độ phụ
quyền như ờ phương Tây cũng vậy ( 1) không có bình đẳng giửa nam nữ ; nhưng về tư cách , đạo đức , thì nam nữ đều có bổn phận , trách nhiệm ngang nhau .
Đại tượng truyện khuyên : coi tượng quẻ này , gió từ trong lửa phát ra ( điều này khoa học đã giảng rồi ), người quân tử hiểu rằng trong thiên hạ , việc gì ở ngoài cũng phát từ trong ; muốn trị nhà thì trước phải tu thân ; mà việc tu thân cốt ở hai điều : nói phải có thực lí , thực sự, khôn nói suông , vu vơ, làm thì thái độ
Phải trước sau như vậy , triệt để từ đầu tới dưới , đừng thay đổi hoài ( quân tử dĩ ngón hữu vật , như hữu hằng ).
Hào từ :
Sơ cửu : nhàn hữu gia , hối vong .
Dịch : Hào 1 , dương : phòng ngừa ngay từ khi mới có nhà thì không hối hận gì cả.
Giảng : Hào này dương cương ở đầu quẻ Gia nhân , chính là lúc mới có nhà , nếu biết đề phòng , ngăn ngừa ngay các tật như lười biếng , xa xỉ thì không có gì phải ăn năn .Ý hào này cũng như tục ngữ của ta . Dạy con từ thuở còn thơ , dạy vợ từ thuở bơ cơ mới về .
Lục nhị : vô du toại , tại trung quĩ , trinh cát.
Dịch : hào 2 âm : không việc gì mà tự chuyện lấy thành công ( nắm hết trách nhiệm ) , cứ ở trong nhà lo việc nấu nướng , giữ đạo chính thì tốt.
Giảng : Hào này âm nhu mà ở vị âm , đắc trung đắc chính là người dâu hay con gái thuận tòng , nhún nhường , nhưng bất tài , ở địa vị thấp , nên không gáng vác nổi việc trị gia , không lãnh trách nhiệm lớn được , chỉ lo việc nấu nướng ở trong nhà thôi.
Cửu tam : Gia nhân hác hác , hối lệ ,cát ; phụ tử hi hi , chung lận.
Dịch : hào 3 , dương : người chủ nhà nghiêm khắc , tuy hối hận , có nguy nhưng lại tốt ;( nếu quá khoan để cho ) dâu con nhí nhảnh chơi đùa thì lại hối tiếc.
Giảng : Hào này là dương ở vị dương , đắc chính nhưng không đắc trung , quá nghiêm khắc , tuy có lúc phải hối hận , gặp nguy ,nhưng kết quả lại tốt vì nhà có trật tự ; trái lại nếu quá dễ dãi để cho dâu con luơng tuồng , thì nhà sẽ suy loạn mà phải hối tiếc .
Lục tứ : Phú gia , đại cát.
Dịch : Hào 4 âm : Làm giàu thịnh cho nhà , rất tốt .
Giảng : Hào này âm nhu , đắc chính ở vào ngoại quái Tốn , địa vị cao , như bà mẹ có trách nhiệm làm cho nhà giàu thịnh lên .
Theo Pham Bội Châu, chử “phu” ở đây không có nhgĩa là làm giàu , mà có nghĩa là gia đạo
hưng thịnh lên , mọi người hòa hợp nhau , trên ra trên , dưới ra dưới .
Cửu ngữ : Vương cách hữu gia , vật tuất , cát .
Dịch : Hào 5 , dương : vua ( hoặc gia chủ ) rất khéo về việc trị gia ( Cách là rất tốt ) không có gì phải lo , tốt .
Giảng : Chữ vương ở đây có thể hiểu là vua trong nước hay gia chủ , nếu hiểu là vua thì “trị
gia “ phải hiểu là “trị quốc”.
Hào này dương cương , đắc trung , đắc chính , lại có hào 2, âm ở dưới ứng với mình , cũng trung , chính , như có người nội trợ hiền giúp đỡ mình , không còn lo lắng gì nữa ,tốt .
Thượng cửu : Hữu phu , uy như , chung cát.
Dịch : Hào trên cùng , dương : ( người trên ) có lòng chí thành và thái độ uy nghiêm ( không lờn ) thì cuối cùng sẽ tốt .
Giảng : hào này ở trên cùng quẻ Gia nhân , tức lúc gia đạo đã hoàn thành . Người trên chỉ cần thành tín là người dưới tin , lại nghiêm trang thì đạo được tốt đẹp lâiu dài.
*
Quẻ này dạy cách tác gia , cần nhớ ba điều này :
- Phải ngăn ngừa ngay từ lúc đầu .
- Bất kỳ người nào trong nhà , nhất là những nhười trên , phải giữ chánh đạo , giữ bổn phận , trách nhiệm của mình.
- Người chủ phải nghiêm , nếu quá mghiêm thì có điều hối hận đấy, nhưng còn hơn là quá dễ dãi.
Chúng ta để ý : sáu hào khôn có hào nào xấu ; nhưng ba hào dưới thuộc về bước đầu , có lời răn bảo ( hào 1: phải phòng ngừa từ lúc đầu, hào 2 : phải giử đạo chính ; hào 3 : coi chừng nghiêm quá thì hối hận , nguy ) ; tới hào 4 và 5 , kết quả rất tốt , hào cuối chỉ cách giữ được sự tốt đẹp đó tới cùng .
38. QUẺ HỎA TRẠCH KHUÊ
Trên là Li ( lửa ) , dưới là Đoái ( chằm )

Gia đạo đến lúc cùng thì người trong nhà chia lìa , chống đối nhau , cho nên sau quẻ Gia nhân tới quẻ Khuê . Khuê nghĩa là chống đối , chia lìa.
Thoán từ :
Khuê : Tiểu sự , cát .
Dịch : Chống đối : việc nhỏ thì tốt .
Giảng : Đoái ( chằm ) ở dưới Li ( lửa ) . Chằm có tính thấm xuống ,lửa có tính bốc lên , trên dưới không thông với nhau mà càng ngày càng cách xa nhau.
Quẻ này xấu nhất trong Kinh Dịch , ngược hẳn lại với quẻ Cách . Chỉ làm những việc nhỏ cá nhân thì họa may được tốt .
Thoán truyện giảng thêm : Đoái là thiếu nữ (có người cho là trưởng nữ) ,Li là trung nữ , hai chị em ở một nhà mà xu hướng trái nhau , cho nên gọi là Khuê .
Tuy nhiên Đoái có đức vui , Li có đức sáng , thế là hòa vui mà nương tựa vào đức sáng . Lại thêm hào 5 , âm nhu mà tiến lên ở ngôi cao , đắc trung mà thuận , ứng với hào 2
Dương cương ở dưới , cho nên bảo việc nhỏ thì tốt .
Xét trong vũ trụ , trời đất , mọt ở trên cao một ở dưới thấp , vốn là khác nhau , chia lìa nhau , vậy mà công hóa dục vạn vật là của chung trời đất . Trai gái , mọt dương ,môt âm
Vẫn là trái nhau vậy mà cảm thông với nhau . Vạn vật tuy khác nhau mà việc sinh hóa cùng theo một luật như nhau . Thế là trong chỗ trái nhau vẫn có chổ giống nhau, tìm ra được chổ “đông “ đó trong cái “dị” ,là biết được cái diệu dụng ( công dụng kì diệu ) của quẻ Khuê, của thời Khuê.
Thoán truyện khuyên ta như vậy . Đại tượng truyện ngược lại khuyên ta ở chổ “đồng” có khi nên “dị”. Ví dụ người quân tử bình thường hành động cũng hợp thiên lý, thuận nhân tình như mọi người ( đó là đồng ) ; nhưng gặp thời loạn , đại chung làm những việc trái với thiên lý thì không ùa theo họ, mà tách riêng ra , cứ giữ thiên lí , dù bị chê bai ,
Bị gian khổ cũng chịu ( đó là dị) . Vậy không nhất định là phải đồng mới tốt , dị ( cia lìa ) . Vậy không nhất định là phải đồng mới tốt , dị ( chia lìa ) cũng có lúc tốt .
Hào từ :
Sơ cửu : Hối vong , tảng mã , vật trục , tự phục ;
kiến ác nhân , vô cữu.
Dịch : Hài 1 , dương : hối hận tiêu hết ; mất ngựa thì đừng tìm đuổi , tự nó sẽ về, gặp kẻ ác rồi mới tránh được lỗi .
Giảng : Hào này có tính cương , ở địa vị dưới , trong thời chống đối nhau , thì tất ít kẻ hợp với mình , hàngh động thì sẽ bị hối hận ; nhưng may ở trên có hào 4 cũng dương cương ,ứng với mình , tức như có bạn đồng chí , cứ chờ đợi sẽ gặp mà bao nhiêu khó khăn , ân hận sẽ tiêu hết. Đối với kẻ ác thì tuy không ưa cũng đừng nên tỏ ra , cứ làm bộ vui vẻ giao thiệp họ, để họ khỏi thù oán.
Cửu nhị : Ngộ chủ vu hạng , vô cữu.
Dịch : hào 2 , dương : gặp chủ trong ngõ hẹp ( do đường tắt ), không có lỗi.
Giảng : Hào này dương cương đắc trung , ứng với hào 5 âm nhu đắc trung , nếu ở trong quẻ Thái ( thời thông thuận ) thì rất tốt ; nhưng ở trong quẻ Khuê ( thời chống đối nhau) thì kém vì hào 5 âm nhu có ý kiêng né hào 2 dương cương ; do đó , 2muốn gặp 5
Thì phải dùng đường tắt , rình 5 trong ngõ hẹp như tình cờ gặp nhau vậy . không có lỗi gì cả
vì thái độ đó chỉ la quyền biến thôi .
Lục tam : Kiến dư duệ , kì ngưu xệ ( hay xiệt );
kì nhân thiên thả nghị , vô sơ hữu chung .
Dịch : hào 3 , âm : Thấy xe dắt tới , nhưng con bò bị ( hào 4 ) cản , không tiến được ; như người bị xâm vào mặt , xẻo mũi , mới đầu cách trở , sau hòa hợp với nhau .
Giảng : Hào 3 bất chính ( dương mà ở vị âm ) ,ứng với hào trên cùng cũng bất chính . Vì ứng với nhau nên cầu hợp với nhau , 3 muốn tiến lên gặp hào ứng với nó , nhưng bị hào 4 ở trên ngăn chặn , như cỗ xe đã dắt tới rồi mà con bò bị cản ,không tiến được . Lại thêm bị hào 2 ở dưới níu kéo lại . Hào 3 phải chống lại 4 và 2 , xô xát với chúng mà bị thương ở mặt ở tai ( chữ thiên) ở đây có nghĩa là bị tội xâm vào mặt , chữ nghị có nghĩa là bị tội xẻo mũi ) . Nhưng rốt cuộc là ( 2 và 4 ) vẫn không thắng được chính (3) và 3 vẫn hòa hợp được với hào trên cùng .
Cửu tứ : Khuê cô, ngộ nguyên phu , giao phu , lệ vô cữu .
Dịch : Hào 4 , dương : Ở thời chia lìa chống đối mà cô lập ; nếu gặp được người trai tốt ( nguyên phu ) , mà chí thành kết hợp với nhau ( giao phu ) thì dù có gặp nguy , kết quả cũng không có lỗi .
Giảng : hào 4 này cô lập vì dương mà bị hai hào bao vây , người trai tốt dây là hào 1 , cùng đức ( dương ) với 4 .
Lục ngũ : Hối vong , quyết tôn phệ nhu , vãng hà cữu .
Dịch : Hào 5 , âm : hối hận tiêu hết ; nếu người cùng phe với mình cắn vào da mình ( hết sức giúp đở mình ) thì tiến đi , không có lỗi gì cả .
Giảng : Hào này không đắc chính ( âm mà ở vị dương ) , ở vào thời chống đối , đáng lẽ xấu , mà nhờ có đức trung , lại có hào 2 dương cương ứng với mình , nên kông xấu nữa , hối hận tiêu tan hết . Được vậy là nhờ hào 2 chịu đứng vào một phe với mình , rất thân thiết với mình , như cắn chặt vào da mình .
Thượng cửu : Khyê cô , kiến thỉ phụ đồ , tải quỉ nhất xa . Tiên
trương chi hồ , hậu thoát chi hồ , phỉ khấu , hôn cấu . Vãng ngộ vũ
tắc cát.
Dịch : Hào trên cùng , dương : ở thời chia lìa mà cô độc ( sinh nghi kị ) , thấy con heo đội đầy bùn , thấy chở quỉ đầy một xe . Mới đầu giương cung để bắn , sau buông cung xuống , xin lỗi rằng mình không muốn làm hại hào 3 mà muốn cầu hôn . ( Hai bên hòa hợp nhau , vui vẻ ) như sau khi nắng lên , gặp cơn mưa , tốt lành gì hơn ?
Giảng : Ở vào thời chia lìa , người ta hay nghi kỵ nhau , hào cuối cùng này , dương cương ở địa vị tối cao , không tin ai ở dưới cả , cho nên cô độc . Ngay hào 3 âm , chính ứng với mình mà cũng bị nghi kị , vì 3 kẹt vào giữa 2 hào dương , cho rằng 3 theo phe 2 hào dương đó mà chống với mình . Vì nghi kị , nêm thấy 3 như con heo dội bùn , lại tưởng xe mình chở một bầy quỉ muốn hại mình . Do đó mà đâm hoảng , giương cung muốn bắn 3 , nhưng nhờ vẫn còn chút minh mẫn ( vì ở trên cùng mgoại quái Li ) nên sau nghĩ lại , buông cung xuống , xin lỗi 3 :” Tôi không phải là giặc ( kẻ thù ) muốn làm hại em đâu , mà trái lại muốn cầu hôn với em “ . Hết nghi kị rồi , hai bên hòa hợp vui vẻ như sau khi nắng lâu gập trận mưa rào , và cùng giúp nhau cứu đời .
Văn thật là bóng bẩy , tâm lý cũng đúng : Phan Bội Châu khen là “ đạo lý rất tinh thâm mà văn tự cũng li kỳ biến hóa “.
Quẻ Khuê là quẻ xấu nhất trong Kinh Dịch nhưng kết quả lại không có gì xấu . sáu hào thì có ba hào “vô cữu “, một hào “hối vong “ một hào “hữu chung” ( hòa hợp với nhau),
Nhất là hào cuối lại “cát” nữa . Như vậy thì trong cái họa vẫn có mầm phúc .
39. QUẺ THỦY SƠN KIỂN
Trên là Khảm (nứoc) , dưới là Cấn ( núi )

Ở thời chia lìa chống đối thì tất gặp nỗi gian nan , hiểm trở , cho nên sau quẻ Khôn tới quẻ Kiển ( gian nan).
Thoái từ :
Kiển : Lợi Tây Nam , bất lợi Đông Bắc , lợi kiến đại nhân , trinh , cát .
Dịch ; Gian nan : Đi về Tây Nam thì lợi , về Đông Bắc thì bất lợi . Gặp đại nhân giúp cho thỉ lợi ; bền giử đạo chính thì mới tốt .
Giảng : Trước mặt là sông ( Khảm ) , sau lưng là núi ( Cấn ) , tiến lui đều gian nan hiểm trở nên gọi là quẻ Kiển . Phải bỏ đường hiểm trở mà kiếm đường bằng phẳng dễ đi, ở hướng Tây Nam, hướng quẻ Khôn , đừng đi hướng Đông Bắc, hướng quẻ Cấn .Dĩ
Nhiên chúng ta không nên hiểu đúng từng từ Tây Nam và Đông Bắc, chỉ nên hiểu ý thôi
Ở thời gian này, phải có người tài, đức (đại nhân) giúp cho thì mới thoát nạn (lợi kiến đại nhân), và phải bền giữ đạo chính
Đại tượng truyện khuyên phải tự xét mình mà luyên đức (phản thân tu đức)
Hào từ
Sơ lục : vãng kiển, lai dự
Dịch : Hào 1, âm : tiến lên thì gặp nạn, lui lại (hoặc ngưng) thì được khen
Giảng : Vào đầu thời gian nan, hào 1 này âm nhu, không có tài, tiến lên hay hành động thì xấu, chỉ nên chờ thời
Lục nhị : Vương thần kiể kiển, phỉ cung chi cố
Dịch : Hào 2, âm : Bậc bề tôi chịu gánh hết gian nan này đến gian nan khác là vì vua, vì nuớc, không phài vì mình
Giảng : Hào này cũng âm nhu, kém tài, nhưng đắc trung đắc chính, có đức, được vua (hào 5, dương mà cũng trung chính) phó thác việc nước, nên phải chống chọi với mọi gian nan, không gián từ, mặ dấu tự biết không chắc gì cứu nước, cứu dân được trong thời kỳ khó khăn nà. Hoàn toàn không vì mình đáng khen
Cửu tam : Vãng kiển, lai phản
Dịch : Hào 3, dương : tiến tới thì mắc cạn, nên trở lại
Giảng : Hào này dương cương đắc chính, nhưng vẫn còn ở nội quái, chưa hết nữa thời gian nan; lại thêm hào trên cùng âm nhu, ứng với nó không giúp được gì cả, nên Hào từ khuyênđừng tiến, cứ quay lại với hai hào ân thì vui vẻ hơn; bề gì cũng là bạn cũ rồi
Lục tứ : vãng kiển, lai liên
Dịch : Hào 4, âm : Tiến tới thì mắc cạn, nêntrở lại mà liên hiệp với các hào dưới
Giảng : Hào này âm nhu, kém tài, đã tiến lênngoại quái, quá nữ thời gian nan nhưng lại gặp hiểm trở (ngoại quái là Khảm), cũng không nên tiến lên, mà nên lùi lại với hào 3, liên hợp với ba hào ở dưới, để thêm thế lự
Cửu ngũ : Đại kiển, bằng lai
Dịch : Hào 5, dương : cực lỳ gian nan, nhưng có bạn tới giúp
Giảng : Ở giữa ngoại quái Khảm (hiểm)nên cực kỳ gian nan. Hào nà như ông vua có tài, nhưng khó thoát khỏ hiểm, May có hào 2 đắc trung, đắc chính ứng với mình, sẳn lòng đát các bạn tức các hào 1, 3, 4 tới giúp mình. Nhưng các hào ấy đều ít tài, trừ hào 3; như vậy tay chân của 5 tầm thương cả, không làm nên việc lớn, nên Hào từ không khen tốt. Cũng không dùng chữ lai, không bảo nên lùivì địa vị nguyên thủ của 5 không cho phép lùi, lùi thì trút tác nhiệm cho ai?
Thượng cửu : Vãng kiển, lai thạc, cát; lợi kiển đại nhân,
Dịch : Hào trên cùng âm : tiến tới thì gian nan, lùi lại làm được việc tốt; nên tìm đại nhânthì có lợi
Giảng : Ở cuối thời gian nan, có cảnh 9áng mừng; hào này âm nhu, không một mỉnh mạo hiểm được, nên quay lại giúp hào 5, bậc đại nhân (có tài đức), thì lập công lớn (thạc). Tốt
Gặp thời gian nan, nên thận trọng đợi thời. Riêng vị nguyên thủ thì phải tìm người giúp mình, hàn kết mọi tầng lớp để chống đở
40 . QUẺ LÔI THUỶ GIẢI
Trên là Chấn (sấm), dưới là Khảm (nước)

Không thể bị nạn hoài được, thế nào cũng tới lúc giải nan, vì vậy sau quẻ Kiền tới quẻ Giải. Giải là cởi, tan
Thoán từ
Giải : Lợi Tây Nam, vô sở vãng, kì lai phục, cát
hữu du vãng, túc, cát
Dịch : Tan cởi : Đi về Tây Nam thì lợi, d7ùng đausư, cứ khôi phục lại n











