
31 . QUẺ TRẠCH SƠN HÀM
Trên là Đoái (chằm), dưới là Cấn (núi)

Kinh thượng bắi đầu từ hai quẻ Càn Khôn : trời, đất. Có trời đất rối mới có vạn vật, có vạn vật mới có nam nữ; có nam nữ mới có vợ chồng, có cha con, vua tôi, trên dưới, lễ phép
Cho nên đầu kinh thượng là Càn Khôn, nói về vũ trụ; dầu kinh hạ là Hàm Hằng, nói về nhân sự. Hàm là trai gái cảm nhau, Hằng là vợ chồng ở với nhau được lâu dài
Thoán tử :
Hàm : hanh, lợi trinh, thứ nữ , cát
Dịch : Giao cảm thì hanh thông, giữ đạo chính thì lợi, lấy con gái thì tốt
Giảng : Đoái là thiếu nữ ở trên, Cấn là thiếu nam ở dưới (1). Cảm nhau thân thiết không gì bằng thiếu nam, thiếu nữ. Cảm nhau thì tất hanh thông
Thiếu nử ở trên thiếu nam phải hạ mình xuống cầu cạnh thiếu nữ; hồi mới gặp nhau thì phải vậy; chứ nếu thiếu nữ cầu cạnh thiếu nam thì bất chính, khong tốt. Cho nên Thoán từ bảo phải giữ chính đạo mới có lợi. Hai bên đều giữ đạo chính cả thì cưới vợ mới tốt lành
(1) : đây là quan niệm thông thường. Có người hiểu Đoái là trưởng nữ. Cấn là trưởng nam. Hiểu cách nào thì ý nghĩa không đổi
Hàm khác cảm ở chổ : Cảm có chử tâm là lòng, hàm thì không. Hàm là tự nhiên hai bên tương ho85p, rối cảm nhau, không tư ý , không vì một lẻ nào khác, phải hư tâm (trống rỗng trong lòng)
Đại tượng truyện khuyên “dĩ hư tâm thụ nhân” như trên núi có chổ trũng xuống (hư) để nước đọng lại thành cái chằm
Hư tâm thì lòng được tĩnh, như cái núi ( nội quái là Cấn), mà vui như tính của cái chằm (ngoại quái là Đoái) (Chỉ nhi duyệt : lời Thoán truyện); muốn giữ được lòng tĩnh thì phải “khắc kỉ phục lễ”, tự chủ được mình mà giữ lễ
Tóm lại, Thoán từ cho trai gái cảm nhau phải chân thành, tự nhiên, vì nết, vì tài thì mới tốt; mà khi cảm nhau rồi phải tự chủ, giữ lễ, đừng để đến nỗ hoá ra bất chánh
Coi đạo âm dương giao cảm mà sinh hóa vạn vật, thánh nhân chí thành mà cảm thiên hạ, thì thấy được chân thành của thiên địa, vạn vật. Đạo cảm nhau là quả quan trọng
Hào từ :
Sơ lục : Hàm kì mẫu
Dịch : Hào 1, âm : Như cả ngón chân cái
Giảng : Hào từ này lấy thân người làm thí dụ. Hào 1 ở dưới cùng, nó ứng với hào 4, thấp mà cảm với trên cao, sức cảm còn nhỏ, chưa động lòng người, mới hơi động được ngón chân thôi. Không khen cũng không chê
Lục nhị : Hàm kì phì, hung; cư cát
Dịch : Hào 2, âm : Cản được bắp chân, xấu; ở yên thì tốt
Giảng : Hào 2, cao hơn một chút, ví như bắp chân. Nó ứng với hào 5, nhưng nó là âm, phận gái mà còn ở dưới thấp, nên nóng lòng cầu thân với hào 5 thì xấu. Nó nên giữ nết trung chính (vì hào 2 đắc trung đắc chính) của nó thì mới tốt, như vậy thì mới tốt, như vậy mới hợp đạo lí
Thoán truyện bảo : quẻ Hàm này, hễ tính thì tốt; cho nên hào 2 này khuyên không nên động
Cửu tam : Hàm kì cổ, chấp kì tùy, văng lận
Dịch : Hào 3, dương : Cảm đươc tới đùi, chỉ vì muốn theo người, cứ như vậy mà tiến thì xấu
Giảng : Hào này ở trên cùng nội quái, nên ví với bắp đùi. Nó là dương cương, ham tiến, muốn theo hào 4 dương cương trên nó; trong thời Hàm, nên tĩnh mà nó động, lại động theo người nữa, đáng chê
Cửu tứ : Trinh cát, hối vong; đồng đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư
Dịch : Hào 4 dương : Hễ chính đáng thì tốt, mà mất hết những điều đáng ăn năn. Nhược bằng nếu lăng xăng tính toán có qua có lại với nhau thì những người qua lại với anh chỉ là những người anh nghĩ tới mà thôi (ý nói : số bạn không đông, đoàn thể không lớn)
Giảng : Hào này đã lên ngoại quái, dương, cương, lại ở quẻ Đoái (vui vẻ), tức là có tínhhòa duyệt, nặng về tình cảm, cho nên ví với trái tim (tấm lòng). Tình cảm phải chính đáng, chí công vô tư, như vậy mới tốt, không phải ăn năn. Nếu có óc tính toán , tốt với người để mong người tốt lại với mình, có đi có lại thì số bạn không được đông
Theo Hệ từ truyện, Chương V, Khổng Tử giảng hào này rất ki, chúng tôi trích ra đoạ dưới đây :
“Đạo lí trong thiên hạ, cần gì phải ngẩm nghĩ bằng ý riêng, tính toán bằng mẹo vặt, vì trong thiên hạ đường đi khác nhau mà qui kết ý như nhau : tính toán trăm lối mà cuối cùng chỉ tóm vào một lẽ (lẽ đó thì có cảm thì có ứng, ứng lại gây ra cảm) cần gì phải ngẫm nghĩ bằng ý riêng, tính toán bằng mẹo vặt…”
Cửu ngũ : Cảm kì mỗi, vô hối
Dịch : Hào 5, dương : Cảm tới bắp thịt ở trên lưng, không hối hận
Giảng : bắp thịt ở trên lưng, cao hơn tim (hay lòng) mà trái tim, khó cảm được vật. Không cảm được vật mà cũng có tư tâm, tư ý, nên cũng không có gì hối hận. Có lẽ vì hào 5 dương cương, ở vị rất cao, trung, chính, cách biệt dân chúng quá, cho nên Chu Hi bảo không cảm được vật chăng?
Thượng lục : Hàm kì ohụ, giáp, thiệt
Dịch : Hào trên cùng âm : Cảm người bằng mép, má, lưỡi
Giảng : Hào này ở trên cùng quẻ Hàm, nênví với mép, má, lưỡi. Nó là âm nhu ở trong ngoại púai Đoái (vui vẻ), ham cảm người ta bằng miệng lưỡi, không thành thực. Chẵng cần nói cũng biết đáng chê rồi
Đạo cảm người phải chí thành, tự nhiên, không dùng trí tính toán, nhưng cũng không nên có tư ý, tư tâm
32 . QUẺ LÔI PHONG HẰNG
Trên là Chấn (sấm), dưới là Tốn (gió)

Ở đấu quẻ Hàm, tôi đã nói tại sao quẻ Hàm (trai gái cản nhau) tiếp tới quẻ Hằng (đạo vợ chồng có tính cách lâu dài). Hàm : trên là Chấn trưởng nam, dưới là Tốn, trưởng nữ (1) chồng trên, vợ dưới, rất hợp đạo, thì tất được lâu dài
Thoán từ
Hằng : Hanh, vô cữu; lợi trinh, lợi hữu du vẵng
Dịch : Lâu dài thì hanh thông, không có lỗi; giử được chính đạo thì có lợi, tiến hành việc gì cũng thành công
Thoán truyện giảng : cương (Chấn) ở trên, nhu (tốn ở dưới, sấm gió giúp sức nhau, Chấn động trước, Tốn theo sau, thế là thuận đạo. Lại thêm ba hào âm ứng với ba hào dương, cũng có nghĩa thuận lợi nữa, cả hai bên đều giữ được đạo chính lâu dài
Hào từ :
Sơ lục : Tuấn hằng, trinh hung, vô du lợi
Dịch : hào 1 âm : Quá mong được thân mật lâu dài; cứ quyết (trinh); như vậy, không chịu bỏ thì xấu, không làm gì được thuận lợi cả
Giảng : Hào 1 ứng với hào 4, nhưng địa vị mình quá thấp, địa vị 4 quá cao, mà 4 dương cương, chỉ trông lên không ngó xuống dưới mình; lại thêm có 2 hào 2 và 3 ngăn cáchvậy mà không biết phận cứ tiến sâu ( tuấn là sâu), mong được thân mật lâu dài, keo sơn với 4, thành ra ngu. Cứ kiên cố giữ cách ấy thì xấu
(1) : Có người cho Chấn là thiếu nam, Tốn là thiếu nữ
Cửu nhị : hối vong
Dịch : hào 2, dương : hối hận tiêu hết
Giảng : Hào này dương cương ở vị âm, đáng lẽ có hối hận, nhưng vì đắc trung lại ứng với hào 5 cũng đắc trung, thế là giữ được đạo trung, nên không có gì hối hận
Cửu tam : Bất hằng kì đức, hoặc thừa chi tu, trinh lận
Dịch : Hào 3 dương : không thường giữ được cáiđức củ mình, có khi bị xấu hổ, dù chính đáng cũng đáng tiếc
Giảng : Hào dương ở vị dương lả đắc chính, nếu thường giữ được đức “chính” dó thì tốt; nhưng vì quá cương mà bất đắc trung, lại theo đòi vớihào trên cùng âm nhu, thế là bỏ cái đức chính của mình, muốn kết bạn với hào trên cùng, chưa biết chừng cũng xấu hổ đấy. Vậy 3 tuy chình đấy, chỉ vì không thường giữ được đức đó, thì tuy chính mà vẫn đáng tiếc
Cửu tứ : Điền vô cầm
Dịch : Hào 4, dương : như đi săn mà không được cầm thú
Giảng : Hào dương mà ở vị âm, là không phải chổ của mình mà cứ ở lâu chổ đó, vì trong quẻ Hằng thì chẳng nên việc gì, chỉ mất công thôi, như đi săn mà không có cầm thú
Lục ngũ : Hằng kì đức, trinh. Phụ nhân cát, phu tử hung
Dịch : Hào 5 6am : giữ d7ợc thường (lâu) đức của mình, bền mà chính. Đàn bà thì tốt, đàn ông thì xấu
Giảng : Hào 5 âm nhu, đắc trung, ứng với hào 2 dương cương cũng đắc trung, nếu cứ thuận tòng từ trước tới sau thì là bền mà chính đáng. Nhưng đó là chỉ đạo của đàn bà như hào 5, âm này thôi; không hợp với đàn ông, vì theo quan niệm thời xưa phu xướng phụ tuỳ
Tiểu tượng truyện Giảng thêm: đàn ông phải tìm cái gì chính đáng mà làm (phu tử chế nghĩa) chứ cứ một chừng mực theo vợ thì xấu
Thượng lục : Chấn hằng, hung
Dịch : Hào trên cùng âm : cứ động hoài, không chịu yên thì xấu
Giảng : Ở trên cùng là quẻ Hằng và ngoại Chấn, cho nên nói là ham động quá, không bền chí, ở yên không được, sẽ thất bại
Quẻ này quan trọng ở hào 5 : đạo phu xướng phụ tùy của TrungHoa thời xưa. Một lời khuyên là theo lý mà làm, đừng hành động càn
33 . QUẺ THIÊN SƠN ĐỘNG
Trên là Càn (Trời), dưới là Cấn (núi)

Hễ ở lâu thì phải rút lui, lánh đi, hết ngày thì tới đêm, hết đông tới xuân, ngồi lâu phải đứng lên, già phải về hưu…, cho nên sau quẻ Hằng (lâu), tới quẻ Độn (trốn lánh đi)
Thoán từ :
Độn : Hanh, tiểu lợi trinh
Dịch : Trốn lánh đi thì hanh thông; trong các việc nhỏ, giữ được điều chính thì có lợi
Giảng : Trên là trờ, ở chân núi thấy đỉnh núi là trời, nhưngcàng lên cao thì thấy trời càng lên cao, tới đỉnh núi thấy trời mù tít vời, như trời trốn lánh núi, cho nên đặt tên quẻ là Độn
Quẻ này hai hào âm ở dưới đẩy bốn hào dương lên trên, có cái tượng âm (tiểu nhân) mạnh lên, đuổi dương (quân tử) đi, trái hẳn với quẻ Lâm. Độn thuôc về tháng 6, Lâm thuộc về tháng 12
Ở thời Độn, âm dương tiến mạnh, dương rút lui đi là hợp thời, được hanh thông (có thể hiểu là : đạo quân tử vẩn hanh thông). Tuy nhiênâm mới có 2, dương có tới 4, chưa phải là thời Bĩ (cả 3 âm đều tiến lên), nên chưa đến nổi nào, trong các việc nhỏ, giữ được điều chính thì có lợi, còn làm được (1)
Sở dĩ chưa đến nổi nào, còn hanh thông vì trong quẻ có hào 5, dương, ứng với hào 2, âm; cả hai đều trung chính. Vậy ở thời đó, chưa nên trốn hẳn, nên tính xem việc nào còn làm được thì làm, tùy cơ ứng biến, cho nên Thoán truyện bảo lẽ tùy thời trong quẻ Độnnày rất quan trọng
Đại tượng truyện khuyên trong thời này quân tử nên xa lánh tiểu nhân, cứ giử vẻ uy nghiêm, đừng dữ dằn với chúng quá
(1) : Ba chử :tiểu lợi trinh” đa số các sách đều giảng như vậy. Chu Hi hiểu khác : tiểu là kẻ tiểu nhân, chứ không phải việc nhỏ; và giảng là : kẻ tiểu nhân giữ được điều chính thì tốt
Hào từ :
Sơ lục : Độn vĩ , lệ, vật dụng hữu du vãng
Dịch : hào 1, âm: trốn sau cùng, như cái đuôi, nguy đấy, đừng làm gì cả
Giảng : Hào ở dưới cùng, nên ví với cái đuôi ở lại sau cùng. Nó là âm, nhu nhược, hôn ám, không trốn theo kịp người, còn rù rờ ở sau, nên bảo là nguy
Lục nhị : Chấp chi dụng hoàng ngưu chi cách, mạc chi thăng thoát
Dịch : Hào 2, âm : Hai bên (hào 5 và hào 2) kha7ng khít (bền chặt) với nhau như buột vào nhau bằng da bò vàng, không thể nào cởi được
Giảng : hào 2 âm, trung đắc chính, ứng với hạngdương cũng đắc trung đắc chính, cho nên tương đắc, khăng khít với nhau, không thể rời nhau được, 2 không thể bỏ 5 mà trốn được
Màu vàng (da bò vàng) là màu trung, ám chỉ hai hào đó đều đắc trung
Cửu tam : Hệ độn, hữu tật lệ, súc thần thiếp, cát
Dịch : Hào 3, dương, lúc phải trốn mà bịnh rịn tư tìnhthì nguy; nhưng kẻ nuôi trai gái tôi tớ thì tốt
Giảng : Hào dương này ở gần hào 2 âm, có vẻ bịn rịn tư tình với hào đó, không thể trốn mau được, như bệnh mà nguy; có tư tình đó thì không làm được việc lớn, chỉ nuôi bọn tôi tớ trai gái, mình tốt với họ thì họ vui lòng dể sai khiến, được việc cho mình
Bốn chữ “súc thân thiếp, cát”Tôi nêu theo Phan Bội Châu, Chu HI giảng rất mù mờ, lúng túng; J.Legge giảng là : nếu 3 đổi hào 2, như nuôi tôi tớ trai gái thì tốt. R.Wilhem giảng là 3 vẫn giữ được sự tự quyết, đừng để cho hào 2 sai khiến mình thì tốt
Cửu tứ : Hiếu độn, quân tử cát, tiểu nhân phủ
Dịch : Hào 4, dương : Có hệ lụy với người, nhưng trốn được; quân tử thì tốt tiểu nhân thì không
Giảng : Hào nàt củng tối nghĩa; chữ có người đọc là hảo, chữ có người đọc là bĩ, vì vậy có nhiề sách hiểu. Chúng tôi hiểu theo Phan Bội Châu. Hào 4, dương cương ứng với hào 1 âm nhu, có tình thân thiết (hệ lụy) với nhau; nhưng 4 là quân tử, 1 là tiểu nhân, 4 cắt được tư tình mà trốn đi, theo l4 phải(chính nghĩa); hỉ hạng quân tử mới làm vậy được, tiểu nhân thì không
Cửu ngũ : Gia độn, trinh cát
Dịch : Hào 5, dương, trốn theo điều chính cho nên tốt
Giảng : Hào 5,dương có đức trung chính, ứng với hào 2 cũng trung chính. Ở vào thời Độn, cả 2 hào trung chính dắt nhau trốn bọn tiểu nhân, giữ được điề chính thì tốt
Thượng cửu : Phi độn, vô bất lợi
Dịch : Hào trên cùng, dương : trốn mà ung dung, đàng hoàng, không có gì không lợi
Giảng : Vào lúc cuối thời Độn, càng trốn được xa, càng tự do. Hào này dương cương, quân tử, không bị bịn rịn với hào nào cả (vì hào 3 cũng dương), có thể ung dung, đàng hoàng trốn được, không nghi ngại gì cả
Ý nghĩa quẻ Độn : Trốn phải hợp thời; trốn sau cùng là trễ thì nguy (hào 1) trốn mà còn vương vấn tư tình thì xấu (hảo); trốn một cách trung chính thì tốt (hào 5); trốn mà không bịn rịn thì được ung dung (hào 6). Lại có trường hợp vì hoàn cảnh mà không được trốn đi (hào 2)
34 . QUẺ LÔI THIÊN ĐẠI TRÁNG
Trên là Chấn (sấm), dưới là Càn (trời)

Hết thời lui rồi thì tới thời tiến lên, tiến lên thì lớn mạnh, cho nên sau quẻ Độn thì tới quẻ Đại tráng (lớn mạnh)
Thoán từ :
Đại tráng, lợi trinh
DỊch : lớn mạnh, theo điều chính thì lợi
Giảng : Quẻ này có 4 nét dương ở dưới, hai nét âm ở trên; dương đã lớn mạnh mà âm sắp diệt vong. Quẻ Càn ở trong, quẻ Chấn ở ngoài, thế là có đức dương cương mà động. Lại có thể giảng là sấm vang động ở trên trời, tiếng rất lớn, vang rất xa
Lớn mạnh thì dĩ nhiên là tốt rồi, nhưng thường tình, gặp thời thịnh, người ta kiêu căng, làm điều bất chính, cho nên Thoán từ phải dặn : giữ điều chính, lúc đắc ý nghĩ đến lúc thất ý, thì mới có lợi
Đại tượng truyện bảo muốn giữ điều chính thì đừng làm cái gì phi lễ (Quân tử phi lễ phất lí)
Thoán truyện bàn thêm : có chính thì mới có lớn (đại), chính đại là cái “tình” của trời đất, tức cái công dụng hiện ra ngoài của trời đất. (chính đại nhi thiên địa chi tình khả kiến hĩ). Chúng ta để ý : quẻ Phục mới có một nét dương hiên ở dưới cùng, cho nên bảo chỉ thất cái lòng của trời đất (kiến thiên địa chi tâm), quẻ Đại tráng này, dương đã lớn , được 4 nét rồi, thì thấy cái tình của trời đất
Hào từ
Sơ cửu : Tráng vu chỉ, chinh hung, hữu phu
Dịch : Hào 1 dương : mạnh ở ngón chân, đi lên thì xấu, có thể tin chắc như vậy (hữu phu ở đây không có nghĩa là đức tin như những nơi khác)
Giảng : Hào này ở dưới cùng, dương cương, cho nên ví như ngón chân, ở địa vị thấp mà hăng hái muốn tiến, se7 vấp, xấu
Cửu nhị : Trinh cát
Dịch : hào 2, dương : có đức chính, tốt
Giảng : Hào này dương cương, ở vị nhu, tuy không đắc chính, nhưng đắc trung, mà trung thì không bao giờ bất chính, vậy là cũng tốt
Cửu tam : Tiểu nhân dụng tráng, quân tử dụng võng,
trinh lệ, dê dương xúc phiên, luy kì giác
Dịch : Hào 3, dương : tiểu nhân dùng sức mạnh, quân tử không; dù giữ điều chính cũng nguy, như con cừu đực húc vào cái dậu, bị thương cái sừng
Giảng : Hào này dương cương, ở vào vị dương (lẻ) trong quẻ Đại tráng, lại ở cuối nội quái Càn, thế là cực kì hung mạnh, dù giữ được chính đáng cũng nguy; quân tử biết vậy mà không hành động, chỉ tiểu nhân hung hăng như con cừu đực, húc vào cái dậu
Bốn chữ “quân tử dụng võng”, Chu HI, J.Legge, R.Wilhem đều giảng như vậy. Duy Phan Bội Châu gọi võng là gan liều , không kiên sợ gì, và “quân tử dục võng” là “quân tử hữu dũng mà vô nghĩa thì làm loạn”. Chữ quân tử ở đâykhông phải là người có đức (như Chu Hi hiểu) mà là người trị dân
Cửu tứ : Trinh cát, hối vong, phiên quyết
bất lụy, tráng vu đại dư chi phúc
Dịch : Hào 4, dương : Theo điều chính thì tốt, hối hận mất hết; dậu đã mở không khốn nữa, mạnh mẽ tiến lên, như ngồi trục xe lớn mà trục xe vững vàng
Giảng : Hào này dương cương, qua khỏi nội quái là Càn, mà lên ngoại quái Chấn, là tráng thịnh đến cực điểm; nó ở trên các hào dương, làm lãnh tụ đám quân tử, sợ nó hăng quámà lầm đường nên phải dặn kĩ : giữ điều chính thì mới tốt, khỏi hối hận
Ở trên nó là hai hào âm, âm đã đến lúc suy, dễ đánh đổ; như cái dậu ở trước mặt hào 4 đã mở, không còn bị khốn nữa; nó có thể dắt ba hào dương ào ào tiến lên dễ dàng, cơ hội thuận lợi như ngồi cỗ xe lớn mà trục xe vững vàng
Lục ngũ : tán dương vu dị, vô hối
Dịch : hào 5, âm : làm mất sự hung hăng của bầy cừu bằng cách vui vẻ dễ dãi, thì sẽ không hối hận
Giảng : Hào này ở vị chí tôn, nhưng vốn âm nhu, không thể áp đảo được 4 hào dương ở dưới, phải vui vẽ với họ thì họ sẽ hết hung hăng. Bốn hào dương đó ví như bầy dê hung hăng. Sỡ dĩ phải có thái độ đó vì ngôi của 5 quá cao đối với tư cách âm nhu của nó
Thượng lục : Đê dương xúc phiên, bất năng
thoái, bất năng toại, vô du lợi, gian tắc cát
Giảng : Hào này ở trên cùng quẻ Đại tráng là hết thời lớn mạnh, mà cũng ở trên ngoại quái Chấn, là rất ham động mà bất lực (âm nhu); như con cừu đực hung hăng húc vào cái dậu, mắc kẹt, lui không được, tiến lên cho toại ý cũng không được, không lợi cỗ nào cả. Nếu bỏ tính hung hăng đi mà chịu khó nhọc thì tốt
Quẻ này thời âm suy, dương lớn mạnh lên, đáng lẽ tốt; mà sáu hào không hào nào thật tốt, chỉ tốt với điều kiệnlà giữ đạo chính của quân tử; cổ nhân khuyên muốn gặp vận tốt thì phải coi chừng gặp họa nấp ở đâu đó, nên đề phòng
35 . QUẺ HỎA ĐỊA TẤN
Trên là Li (lửa), dưới là Khôn (đất)

Đã tráng thịnh thì tất nhiên phải tiến lên, cho nên sau quẻ Đại tráng tới quẻTấn, Tấn có nghĩa là tiền lên
Thoán từ
Tấn : Khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nập tam tiếp
Dịch : Tiến lên; bậc hầu có tài trị nước được tưởng ngựa nhiều lần, ban ngày được tiếp tới ba lần
Giảng : Quẻ này có tượng mặt trờ (Li) lên khỏi mặt đất (Khôn) càng lên cao càng sáng, tiến mạnh
Lại có thể hiểu là người dưới có đức thuận (Khôn) dựa vào bậc trên có đức sáng suốt (Li) cho nên ví như một vị hầu có tài trị dân (Khang hâu được vua tín nhiệm, thưởng (tíach) ngựa nhiều lần, nội một ngày được vua tiếp tới 3 lần
Thoán truyện giảng thêm : quẻ này hào 5 có cái tượng một hào âm nhu tiến lên địa vị vua chúa : nhu tiên nhi thương hành. Theo Chu Hi, như vậy quẻ Tấn do quẻ Quán biến thành : hào 4 quẻ Quán là âm, nhảy lên trên, thành hào 5quẻ Tấn. Phan Bội Châu hiểu khác : hào 5 vốn là quẻ dương giữa quẻ Càn, biến thành hào âm ở giữa ngoại quái Li của quẻ Tấn. Theo tôi cách hiểu của Chu Hi dể hiểu hơn
Đại tương truyện khuyên người quân tử xem tượng quẻ Tấn này nên tự làm cho đức của mình càng ngày càng sáng như mặt trời hiện lên khỏi mặt đất rồi tiền mãi lên
Hào từ :
Sơ lục : Tấn như, tồi như, trinh cát, võng phu, dụ, vô cửu
Dịch : hào 1 âm : muốn tiến lên mà bị chắn lại, giữ đạo chínhthì tốt; nếu mình chẳng tin mình thì nên khoan thai, bình tĩnh, như vậy sẽ không có lỗi
Giảng : Aâm nhu ở dưới cùng, ứng với hào 4, mà 4 lại bất trung, bất chính, nên chẳng giúp mình được gì, mình muốn tiến lên mà như thể bị chặn lại. Trong hoàn cảnh đó , nếu người không tin mìnhthì mình chỉ nên khoan thai, bình tĩnh tu thân là sẽ không có lỗi.
Lục nhị : Tấn như, sầu như, trinh cát;
thụ tư giới phúcvu kì vươmg mẫu
Dịch : Ho 2, âm : Tiến lên mà rầu rĩ, giữ đạo chính thì tốt; sẽ được nhờ phúc lớn của bà nội
Giảng : Hào này có đức trung chính, đáng lẽ tiến lên đượcnhưng trên không có người ứng viện (vì hào 5 cũng âm như 2), phải tiến một mình, nên rầu rĩ. Nhưng cứ giữ đạo chínhthì chẳng bao lâu sẽ gặp cơ hội tốt : hào 5 ở trên, cũng là hào âm như mình, tuy không giúp được mình trong công việc, nhưng cũng đắc trung như mình, sẽ ban phúc lớn cho mình, và mình sẽ được nhờ phúc của hào 5 như nhờ phúc của bà nội (vương mẫ tức tổ mẫu) mình vậy
Sở dỉ ví hào 5 với bà nội vì 5 là âm mà ở trên cao, cách 2 khá xa
Lục tam : chúng doãn, hối vong
Dịch : Hào 3 âm : mọi người tin cẩn, thì mọi sự hối tiềc sẽ mất đi
Giảng : Hào âm này ở trên cùng nội quái Khôn, bất trung bất chính, đáng lẽ có điều hối hận, nhưng có hai hào âm ở dưới đều muốn tiến lên với mình, đều tin mình, mình được lòng họ, thì còn gì phải hối tiếc nữa đâu?
Cửu tứ : Tấn như, thạch thử, trinh lệ
Dịch : Hào 4, dương : tiến lên, tham lam như con chộut đồng, cứ giữ thói đó thì nguy
Giảng : Hào này bết chính bất trung, ở địa vị cao, tham lam muốn giữ ngôi mà lại sợ một bầy âmở dưới đương hăng hái tiến lên, nên ví như con chuột đông vừa tham lam vừa sợ người
Nếu nó cứ giữ thói đó (tringở đây là bền vững chứ không phải chính đáng, vì hào 4 vốn bất chính) thì sẽ nguy, bị tai họa mà mất ngôi
Lục ngũ : hối vọng, thất đắc vật tuất, cát, vô bất lợi
Dịch : Hào 5, âm : không có gì ân hận cả, nếu đừng lo được hay mất, mà cứ tiến lên thì tốt, không gì là không lợi
Giảng : hào này làm chủ quẻ Tấn, có đức sáng suốt (vì ở giữa ngoại quái Li), lại được 3 hào âm ở dưới thuận giúp mình, nên không gì phải ân hận
Nhưng nó là âm nhu, e có lòng ham được, sợ mất, cho nên Hào từ khuyên thành bại chẳng màng, cứ giữ đức sáng suốt thì sẽ thành công
Thượng cửu : Tấn kì giác, duy dụng
phạt ấp, lệ cát, vô cữu, trinh lận
Dịch : Hào trên cùng, dương : chỉ tiến cặp sừng thôi, lo trị cái ấp của mình thôi thì dù có nguy, kết quả cũng tốt, không tội lỗi, nhưng dù được điều chính thì cũng đáng thẹn
Giảng : Dương cương mà ở trên cùng quẻ Tấn, có nghĩa là cứng đến cùng cực, mà ham tiến cũng cùng cực, không khác con thú hung hăng chỉ húc bằng cặp sùng. Như vậy không làm được việc lớn, chỉ giữ được cái vị của mình, như trị được cái ấp riêng của mình thôi, dù có nguy thì vẫn thành công đấy. Có điều ở thời đại Tiến lên mà chỉ làm được như vậy, chứ không thành sự nghiệp lớn thì cũng đáng thẹn đáng tiếc











