
26 . QUẺ SƠN THIÊN ĐẠI SÚC
Trên là Cấn (núi), dưới là Càn (trời)

Mình có càng bậy thì bản thân mới có thể chứa được nhiều tài, đức, hoài bảo, nên sau quẻ Vô vọng, là quẻ Đại súc. Chử súc trong quẻ này cũng là chữ súc trong quẻ Phong thiên tiểu súc, có ba nghĩa : nhóm chứa, nuôi nấng, ngăn lại. Thoán từdùng theo nghĩa chứa (súc tích, uẩn súc), mà hào từ dùng với nghĩa ngăn lại
Thoán từ :
Đại súc lợi trinh – Bất gia thực, cát, thiệp a9ạ xuyên
Dịch : Chúa lớn : chính đáng (theo chính đạo)thì lợi. Không phải ăn cơm nhà (tức là hưởng lộc vua), tốt; vượt qua sông lớn (làm việc khó khăn gian nguy để giúp nước) thì lợi
Giảng : Trên là núi, dưới là trờ, núi mà chứa được trời thì sức chứa của nó thật lớn, cho nên gọi là Đại súc. Nói về bật quân tử thì phải chứa tài đức, nghĩa là tu luyện chi tài đức uẩn súc; trước hết phải cương kiện như quẻ Càn, phải rất thành thực, rực rở (có văn vẻ) như quẻ Cấn, mà những đúc đó phải một ngày một mới (nhật tân kì đức : Thoán truyện); phải biết cho đến nơi đến chốn, làm cho đến nơi đến chốn, đủ cả tri lẩn hành
Người nào được “uẩn súc” được như vậy thì được quốc gia nuôi, và khi xã hội gặp gian truân thì cứu được (vượt qua sông lớn), vì ứng với trời (như hào 5 ở vị cao ứng với hào 2 trong quẻ càng nghĩa là trời)
Hào từ :
Sơ cửu : Hữu lệ, lội dĩ
Dịch : Hào 1,dương : có nguy, ngưng lại thì lợi
Giảng : hào này cương kiệt, muốn tiến lên nhưng bị hào 4 âm ở trên chặn lại (trong các hào súc có nghĩa là ngăn, không có nghĩa là chứa), nếu cố tiến thì nguy, ngưng lại thì tốt
Cửu nhị : Dư thoát phúc
Dịch : Hào này cũng bị hào 5 âm ngăn lại như hào 1, nhưng vì đắc trung (ở giữa nội quái), nên biết tự ngăn mình (như tự tháo cái trục xe ra) để thôi không đi. Như vậy không có lỗi
Cửu tam : Lương mã trục; lợi gian trinh
nhật nhàn dư vệ, lợi hữu du vãng
Dịch : Hào 3, dương : như hai con ngựa tốt chạy đua nhau; phải chịu khó giữ đạo chính thì có lợi, lại phải thường ngày luyện tập, dự bị các đồ hộ thân thì tiến lên mới có lợi
Giàng : Chúng ta để ý : hai hào 1,2 dương cương mà đều bị hai hào âm nhu (4,5) cản lại, vì tuy cương mà ở trong nội quái (quẻ dưới), cũng như các tướng tài năng phải phục tùng Võ Hậu, Từ Hi Thái Hậu. Không phải thời nào dương cũng thắng âm cả đâu
Tới hào 3 này, may được hào trên cùng cũng là dương, ứng với mình như một đồng chí, nêncả hai hăng hái như hai con ngựa tốt đua nhau chạy; nhưng hăng quá mà không nhớ rằng trên đường gặp gian nan, không luyện tập đề phòng hàng ngày thì không tiến xa được, nên Hào từ khuyên như trên
Lục tứ : Đông ngưu chi cốc, nguyên cát
Dịch : hào 4, âm : Như con bò mộng còn non, mới nhú sừng, đặt ngay mảnh gổ chặn sùng nó thì rất tốt
Giảng : Trong quẻ Đại súc; hào âm này vẫn ngăn chặn hào 1, vì nó tuy âm nhu, nhưng hào 1 ở đầu quẻ là dương còn non, như con bò mộng mới nhú sừng, nếu kịp thời ngăn cản ngay, chặn sừng nó lại thì không tốn công mà có kết quả rất tốt. Đại ý là phải đề phòng ngay từ khi tai họa mới mòi phát
Lục ngũ : Phần thỉ chi nha, cát
Dịch : Hào 5 âm : Như thể đã ngăn cái nanh con heo đã thiến thì tốt
Giảng : hào 2 là dương đa7 già dặn, không non nớt như hào 1, cho nên dử hơn hào 1, ví như nanh con heo (rừng) . Hào 5 muốn chặn nó thì bẻ nanh con heo thôi, thì nó vẫn còn hung; tốt hơn hết là thiến nó để nó hết dữ, lúc đó dù nó còn nanh vẫn không hay cắn nữa. Hào 5 chặn hào 2 nhờ cách đó, trừ tận gốc, không tốn công mà kết quả tốt
Thượng cữu : Hà thiên chi cù, hanh
Dịch : Hào trên cùng, dương. Sao mà thông suốt như đường trên trời vậy
Giảng : Tới hào này thời gian cản đã cùng rồi, hết trở ngại, đường thật rộng lớn, bát ngát như đường trên trời. Có nghĩa đạo lớn được thi hành
Quẻ này Thoán từ nói về sự súc tích tài đức, mà Hào từ lại xét cách ngăn cản của kẻ hung hãn
Hai hào có ý nghĩa nhất là 4 và 5 : muốn ngăn thì phải ngăn từ khi mới nha manh; và muốn diệt ác phải diệt từ gốc, tìm nguyên nhân chích mà trừ thì mới không tốn công mà kết quả chắc chắn
27 . QUẺ SƠN LÔI DI
Trên là Cấn ( núi), dưới là Chấn (sấm)

Súc là chứa, có chứa nhóm vật lại rồi mới nuôi được, cho nên sau quẻ Đại súc là quẻ Di. Di có hai nghĩa: nuôi nấng và cái cằm. Nhìn hình quẻ, chùng ta thấy như cái miệng mở rộng, hai nét liền ở trên và dưới như hai cái hàm, toàn bộ gợi ý cho ta cái cằm (hay cái mép) lại gợi cho ta sự ăn uống để nuôi sống
Thoán từ :
Di : Trinh cát, quan di, tự cầu khẩn thực
Dịch : Nuôi : hễ đúng chính đạo thì tốt. Xem cách nuôi người và tự nuôi mình
Giảng : Nuôi tinh thần hay thể chất, cũng phải hợp với chính đạo thì mới tốt. Xem cách nuôi người và tự nuôi mình thì biết tốt hay xấu
Thoán truyện suy rộng ra : Trời đất khéo nuôi vạn vật mà vạn vật lại sinh sôi nảy nở về mọi mặt; thánh nhân dùng người hiền giúp mình nuôi dân chúng; cái đạo nuôi lớn như vậy đó
Đại tượng truyện đưa thêm một ý nữa : theo cái tượng của quẻ, thì dưới núi có tiếng sấm, dương khi bắt đầu phát mà vạn vật trong núi được phát triển như vậy là trời đất nuôi vạn vật. Người quân tử tự nuôi mình thì phải cẩ thận về lời nói để nuôi cái đức, và tiết độ về ăn uống để nuôi thân thể (Quân tử dĩ thận ngôn ngữ, tiết ẩm thực). Là vì ở đời, “họa tòng khẩu xuất, bệnh tòng khẩu nhập “phải giữ gìn nhất cái miệng
Hào từ
Sơ cữu : Xã nhi linh quy, quan ngã đóa di, hung
Dịch : Chúng ta nên để ý : nội quái là Chấn, có nghĩa là động, cho nên cả ba hào đều diển ý đi cầu cạnh người
Hài 1 nà dương cương, khôn lanh, nhưng với hào 4 âm, có thế lự ở trên hăm hở theo âm bỏ thiên lí, thèm thuồng cầu ăn ở người khác (hào 4) để nuôi xác thịt, mà quên phần tinh thần của mình (nó ví như con rùa thiêng chỉ sống bằng khí trờ), như vậy rất xấu. Hai chữ “đóa di”, thòng mép xuống, cực tả sự bỉ ổi của bọn người tham ăn, nói rộng ra là bọn bị tư dục mê hoặc đến mất cả kiêm sỉ
Lục nhị : Điên di, phất kinh, vu khâu di, chinh hung
Dịch : Hào 2, âm : Đảo lộn cách nuôi mình trái với lẻ thường, cầu sự nuôi dưỡng ở gò cao, tiến lên thì xấu
Giảng : Hào nà âm nhu , không tự sức nuôi mình được, nên phải cầu ăn với hai hào dương 1 và 6. nhưng hào 1 ở dưới mình, như vậy là người trên xin ăn người dưới, đảo lộn, trái lẽ thường (kinh) rồi; còn như cầu ăn ở hào trên cùng (ví như cái gò cao), thì hào này không ứng với 2, 2 sẽ bị từ chối, bị khinh mà mắc nhục
Nên để ý : theo thường lệ, hào 2 này đắc trung, chính thì tốt mà ở đây lại xấu, vì ý nghĩa của quẻ này là nuôi dưỡng, mà hào này lại kgông đủ sức tự dưỡng được
Lục tam : Phật di, trinh hung, Thập niên vật dụng vô du lợi
Dịch : Hào 3 âm : Cách nuôi trái hẳn với chính đạo, xấu. Mười năm (có nghĩa là tới cùng) cũng không tốt không làm nên gì
Giảng : Hào này âm nhu, bất trung, bất chính, lại hay động (vì ở trên cùng nội quái Chấn) không chịu ngồi yên, thấy đâu có ăn là đâm đầu vào. Rất xấu – Về hai chử “thập niên” chúng ta đã giảng ở cuối cùng quẻ Phục
Lục tứ : điên di, cát; HỔ thị đam đam, kì dục trục trục, vô cửu
Dịch ; Hào 4, âm : Đảo lộn cách nuôi mà tốt. Mắt hổ nhìn đăm đăm lòng tham muốn day lhông ngớt, không có lỗi
Giảng : Hào này âm nhu đắc chính, ở vào địa vị cao, được hào 5 chí tôn tương đắc với mình (cùng là âm) lại có thêm hào 1 dương tương ứng với mình, như vậy là người trên biết kính trọng đạo nghĩa, biết hạ mình cầu người dưới (hào 1) nuôi mình; tuy là điên đảo trái lẻ thường đấy, nhưng vì là người tốt (đắc chình), cầu 1 giúp mình để mình lập nên sự nghiệp sau này giúp người, cho nên vẫn tốt
Nhưng phải chuyên nhất, không gián đoạn (như mắt hổ nhìn đăm đăm, ham muốn không ngớt), cứ tiếp tục cầ 1 giúp hoài thì sẽ được, không có lỗi
Cầu nuôi ở hào này là cầu nuôi về tinh thần chứ không phải thể xác
Lục ngũ : Phật kinh, cư trinh, cát. Bất khả thiệp đại xuyên
Dịch : Hào 5, âm : Trái lẻ thường, bền chí giữ đạo chính thì tốt. Không thể vượt sông lớn
Giảng : Hào này như một vị nguyên thủ, có trách nhiệm nuôi người, nhưng vì âm nhu, kén tài, nên phải nhờ người (tức hào trên) nuôi mình (giúp đỡ mình); tuy trái lẽ thường, nhưng cứ bền chí, giữ đạo chính thì tốt; vì nhờ người khác giúp đỡ mình làm tròn nghĩa vụ nuôi dân
Tuy nhiên, vì kém tài (âm nhu) làm việc lớn gian hiểm không nổi, nên hào từ khuyên không thể vược qua sông lớn
Cầu nuôi ở hào này là cầ nuôi về tinh thần
Thượng cữu : Do di, lệ cát. Lợi thiệp đại xuyên
Dịch : Hào trên cùng, dương. Thiên hạ nhờ mình mà được nuôi, trách nhiệm mình lớn như vậy, mình phải lo lắng, sợ hải thì được tốt. Qua sông lớn được
Giảng : Hào này dương cương mà ở trên cùng, như bậc làm thầy cho vị nguyên thủ, vị nguyên thủ nhờ mình mà nuôi được thiên hạ, thì cũng như chính mình nuôi được thiên hạ. Trách nhiệm lớn như vậy nên mình thường lo lắng, sợ hãi, thận trọng thì mới tốt lành, mà thiên hạ đươc phúc lớn (theo Tiểu tượng truyện)
Hào này dương cương nhưng có tài, không như hào 5, cho nên làm được việc lớn gian hiểm
Tóm lại ba hào cuối đều có nghĩa là nuôi về tinh thần, giúp đỡ dân chúng nên đều được cát hết. Ba hào đầu đều có nghĩa là nhờ người nuôi thể xác nên đều xấu
28 . QUẺ TRẠCH PHONG ĐẠI QUÁ
Trên là Đoái (chằm), dưới là Tốn (gió)

Tự truyện quái giảng rất mù mờ : “di là nuôi, không nuôi không thể động (bất dưỡng tức bất động) (?) cho nên sau quẻ Di đến quẻ Đại quá (lớn quá) “Phan Bội Châu giảng : có nuôi rồi sau mới có việc lớn quá”
Chúng tôi nghĩ có thể giảng : có bồi dưỡng tài đức thì sau mới làm việc lớn quá (rất lớn), phi thường
Chử “Đại quá” có hai cách hiểu : phần dương trong quẻ tới 4 (phần âm chỉ có 2) mà dương có nghĩa là lớn (âm có nghĩa là nhỏ); vậy Đại quá có nghĩa là phần dương quá nhiều; - nghĩa nữa là (đạo đức công nghiệp) quá lớn
Thoán từ :
Đại quá : Đống nạo, lợi hữu du vãng hanh
Dịch : (Phần dương) nhiều quá (phần âm) ít quá như cái cột yều, cong xuống (chống không nổi). Tiến đi thì lợi được hanh thông
Giảng : Nhìn hình của quẻ, 4 hào dương ở giũa, 2 hào âm ở đầu, như cây cột khúc giữa lớn quá, ngọn và gốc nhỏ quá chống không nổi phải cong đi
Tuy vậy, hai hào dương 2 và 5 đắc trung, thế là cương mà vẫn trung, lại thêm quẻ Tốn ở dưới có nghĩa là thuận, quẻ Đoái ở trên có nghĩa là vui, thế là hòa thuận vui vẻ, làm được việc, cho nên bảo là tiến đi (hành động)thì được hanh thông
Đại tượng truyện bà rộng : Đoái là chằm ở trên, Tốn là cây ở dưới, có nghĩa là nước lớn quá ngập cây. Người quân tử trong quẻnay phải có đức độ, hành vi hơn người, cứ việc gì hợp đạo thì làm, dù một mình đứng riêng, trái với thiên hạ củng không sợ ( độc lập bất cụ); nếu là việc không hợp đạo thì không nên làm, dù phải trốn, cũng không buồn (độn thế vô muộn)
Hào từ :
Sơ lục :Tạ dụng bạch mao, vô cữu
Dịch : Hào 1, âm. Lót (vậi gì) bằng cây cỏ mao trắng, không có lỗi
Giảng : Hào 1 âm nhu, đức mỏng, địa vị rất thấp, muốn làm việc lớn (vì quẻ Đại quá) mà không nổ, cứ cẩn thận kính cẩn thì không có lỗi
Theo Hệ từ thượng truyện chương VIII Khổng Tử bàn về quẻ này :”Nếu đặt vật gì xuống đất thì được rồi mà lại còn dùngcỏ mao trắng dể lót thì còn sợ gì đổ bể nữa ? Như vậy là rất cẩn thận”.
Cửu nhị : Khô dương sinh đề, lão phu.
Đắc kì nữ thê, vô bất lợi
Dịch : Hào 2, dương : cây dương khô đâm rể mới, đàn ông già cưới vợ trẻ, không gì là không tốt
Giảng : Dương cương mà ở vị âm (hào 2), như vậy là cương mà có chút nhu, lại đắc trung. Nó thân cận với hào 1 âm, thế là cương nhu tương tế, bớt cúng đi, như cây khô đâm rể mới, rồi cành lá sẽ tươi tốt. Có thể ví như một người già lấy vợ trẻ
Cữu tam : Đống nạo hung
Dịch : Hào 3 dương : Cái cột cong xuống, xấu
Giảng : hào 3 dương ở vị dương, thế là quá cương, định làm việc lớn quá (thời Đại quá) quá cương thì cong xuống, gãy, việc sẽ hỏng
Chúng ta để ý : Thoán từ nói về nghĩa toàn quẻ, nên dùng hai từ “đống nạo” mà vẫn khen là tốt (lí do đã giảng trên) còn hào từ xét riêng ý nghĩa hào 3, chê là xấu, vì hào này quá cương, mặc dầu ứng với hào trên cùng (âm nhu), cũng không chịu để hào đó giúp mình
Cữu tứ : Đống long, cát. Hữu tha, lận
Dịch : Hào 4, dương : như cây cột lớn, vững, tốt. Nếu có ý nghĩa gì khác thì hối tiếc
Giảng : cũng là hào dương ở vị âm (4), vừa cương, vừa nhu, như cái cột lớn vững đở nổi nhà. Ý nói làm được việc lớn, không lo thất bại
Nó ứng với hào 1 âm, tiểu nhân ở dưới, như vậy e nó quá nhu chăng, cho nên Hào từ khuyên: chớ quyến luyến với 1, có ý nghĩa khác, mà đáng xấu đấy
Cữu ngũ : Khô dương sinh hoa, lão phụ đắc kì sỉ phu, vô cử, vô dự :
Dịch : Hào 5, dương : Cây dương khô ra hoa, bà già có chồng trai tráng, không chê cũng không khen
Giảng : Hào 5, dương cương trung, trung chính. Ơû ngôi chí tôn, đáng lẽ làm được việc rất lớn, nhưng ở thời Đại quá, thì quá cương; quá cương mà ở hào trên cùng, âm ở vị âm, là một người quá nhu, không giúp nhau được việc gì, cũng như cây dương đã khômà ra hoa cuối mùa, sắp tiều tuỵ đến nơi rối. Không khác gì bà già mà có chồng trai tráng, chẳng mong sinh đẻ gì nữa
Hào này khác với hào 2 ở chổ, hào 2 vừa cương vừ nhu, nên tốt, ví với cây dương khô đâm rễ mới; hào 5 thì quá cương, xấu ví như cây dương khô, không đâm rễ mà ra hoa, nhựa sắp kiệt rồi
Thượng lục : Quá thiệp, diệt dính, hung, vô cữu
Dịch : Hào trên cùng, âm. Lội qua chổ nước sâu, nước ngập đầu, xấu : nhưng không có lỗi
Giảng : Bản chất âm nhu, tài hèn mà ở cuối thời Đại quá, muốn làm việc lớn thì rất nguy thân, như người lội chỗ nước sâu lút đầu. Nhưng làm công việc đó để cứu đời, nên không gọi là có lỗi được. Hào này trỏ hạng người “sát nhân dĩ thành nhân” (tự hi sinh để làm nên điều nhân), đáng phục chứ không chê được
Tên quẻ là Đại quá (lớn quá), mà Hào tư lại ghét những người quá cương, (hào 3 và 5); quá nhu như hào trên cùng tuy không có lỗi, nhưng cũng cho là xấu. Vậy Kinh Dịch có ý trọng đức trung (vừa cương vừa nhu) hơn cả
29 . QUẺ THUẦN KHẢM
Trên và dưới đều là Khảm (nước)

Lẽ trời không thể quá (cực đoan) được mãi, hễ quá thì phải sụp vào chổ hiểm. Vậy sau quẻ Đại quá, tới quẻ Thuần Khảm. Khảm có nghĩ là sụp, là hiểm
Thoán từ :
Tập Khảm : Hữu phụ, duy tâm hanh, hành hữu thượng
Dịch : Hai lớp Khảm (hai lớp hiểm), có đức tin, chỉ có lòng là hanh thông, tiến đi (hành động) thì được trọng mà có công
Giảng : Tập Khảm có nghĩa là trùng khảm, hai lầ Khảm. Nhìn hình quẻ Khảm ta thấy một hào dương bị hảm giữa hai hào âm, cho nên Khảm có nghĩa là hảm, là hiểm
Ta lại thấy ở giửa đặc biệt (nét liền), ngoài rỗng (nét đứt), trái với quẻ Li giữa rỗng trên dưới đặc, như cái miệng lò; chổ rỗng đó là chổ không khí vô đốt than, củi, cho nên Li là lửa thì Khảm là nước. Nguy hiểm gì không bằng nước sâu, không cẩn thận thì sụp xuống, chết đuối nên bảo nước là hiểm
Xét theo ý nghĩa thì hào dương ở giữa, dương là thực thành tín: vì vậy bảo Khảm có đức tin, chí thành (hữu nhu) ở trong lòng, nhờ vậy mà hanh thông. Gặp thời hiểm, có lòng chí thành thì không gặp nguy hiểm, hành động thì được trọng mà còn có công
Thoán Truyện giảng thêm : Nước chảy hoài mà không bao giờ ứ lại (kưu nhi bất danh) chỗ hiểm nào cũng tớ, cho nên bảo là có đức tin
Lòng được hanh thông vì hai hào giữa (hào 2 và 5), đã cương mà đắc trung
Trời có tượng hiễm (vì không lên trời được); đất có tượng hiễm tức có núi sông. Các bậc vương công theo tượng trời và đất mà đặt ra những cái hiễm (tức đào hào, xây thành, đặt hình pháp) để giữ đất đai và tr65t tự trong xã hội. Cái công dụng của hiễm nếu hợp thời thì rất lớn
Đại tượng truyện khuyên nên theo cái đức chảy hoài không ngừng của nước mà giử bền đức hạnh và tu tĩnh không ngày nào quên
Hào từ :
Sơ lục : Tập Khảm, nhập vu Khảm năm ( có người đọc là đạm, hạm, lãm), hung
Dịch : Hào 1, âm : Hai lần hiểm sụp vào hố sâu, xấu
Giảng : Hào 1 đã âm nhu, lại ở dưới cùng quẻ Thuần Khảm, hai lần hiểm, nên rất xấu
Cửu nhị : Khảm hữu hiểm, cầu tiểu đắc
Dịch : hào 2, dương : Ở chổ nước lại có hiểm, mong làm được việc nhỏ thôi
Giảng : Hào này dương cương, có tài, trí, nhưng ở giữa thời trùng hiểm, trên dưới bị hai hào âm nhu bao vây, chưa thoát được; cho nên chỉ mong làm được việc nhỏ thôi
Hào 4 quẻ Dự (số 16)cũng là dương ở vị âm, cũng bị hai hào âm bao vây, còn kém hai hào quẻ Khảm vì không đắc trung, vậy mà Hào từ cho là “Đại hữu đắc” (thành công lớn); còn hào 2 quẻ Khảm chỉ cầu được tiể đắc thôi; chỉ vì thời khác : thời quẻ Dự là thời vui vẻ, hanh thông, thời quẻ Khảm là thời nguy hiểm, gian nan
Lục tam : Lai chí Khảm Khảm, hiểm thả chẩm
nhập vu Khảm năm, vật dụng
Dịch : Hào 3 âm : tới lui (chữ chi ở đây có nghĩa là đi) đều bị hãm, trước mặt là hiểm, sau lưng lại kê vào hiểm, chỉ càng sụp sâu hơn thôi, chớ dùng (người ở hoàn cảnh hào 3 này không dùng được đâu
Giảng : Hào này âm nhu, bất trung, bất chính, ở trên cùng quẻ nội khảm, mà tiến lên thì gặp ngoại khảm, trước mặt là khảm, sau lưng là khảm toàn nguy hiểm cả, cho nên chỉ sụp vào chổ sâu hơn thôi
Lục tứ : Tôn đức quĩ, nhị dùng phẫu
nạp ước tự dũ, chung vô cữu
Dịch : Hào 4, âm : như thể chỉ dâng một chén rượu, một quĩ thức ăn, thêm một vài vò đựng vài thức ăn khác nữa (không cần nhiều hễ chí thành là được); (có thể tuỳ cơ ứng biến) đút khế ước qua cửa sổ (chứ không qua cửa chính), như vậy không có lỗi
Giảng : Lời hào này gọn quá, khó hiểu. Phan Bội Châu giảng như sau : Tôn là chén rượu, quĩ là đồ đựng thức ăn; nhị là thứ nhì, phó (trái với chánh) là thêm vào, phẫu là cái vò. Tôn tữu quĩ, nhị dùng phẫu nghĩa là rượu chỉ một chén, thức ăn chỉ một quĩ, các thức ăn thêm vào chỉ dùng một vò là đủ. Ý nói không cần nhiều, miễn lòng chí thành là được. “Nạp ước tự dũ” nghĩa là khế ước (để làm tin) đáng lẽ phải nộp qua cửa lớn, nhưng lại đ1t qua cửa sổ (dũ), như vậy là không chính đại quang minh, nhưng gặp thời hiểm khó khăn, có thể “bất đắc dĩ nhi dụng quyền” (quyền này không phải quyền hành, mà là quyển biến : tuỳ cơ ứng biến), miễn là giữ lòng chí thành
Hào 4 này như một vị đại thần, nhưng âm nhu, vô tài, không cứu đới ra khỏi cảnh hiểm được; cũng may mà đắc chính, chí thành, cứ giữ chí thành đó mà đối với vua, với việc nước, nếu có chút cơ tri, biết tòng quyền, thì rốt cuộc không có lỗi
Cửu ngũ : Khảm bất danh, chỉ kì binh vô cữu
Dịch : Hào 5, âm : Nước (hiểm) chưa đầy, nhưng đến lúc nước đầy rồi, la75ng rồi, thì khỏi nguy hiểm, không có lỗi
Giảng : hào này dương cương, có tài đắc trung, đắc chính, ở ngôi chí tôn, mới trải qua già nữa thời Khảm, hiểm chưa hết, nước còn dâng lên nữa, đến khi nước đầy rồi mới bình lại, mà dắt dân ra khỏi hiểm được. Chữ kì ở đây nghĩa là bệnh, tức hiểm nạn trỏ chử Khảm
Thượng lục : Hệ dụng huy mặc
tri vu tùng cức, tam tuế bất đắc, hung
Dịch : Hào trên cùng, âm : Đã trói bằng dây thừng to, lại đặt vào bụi gai, ba năm không ra được, xấu
Gảing : hào này âm nhu, ở trên cùng quẻ Khảm, chổ cực kì hiểm, đã không có tài ra khòi cảnh hiểm, lại không biết hối mà sửa mình, nên bị họa rất nặng
Quẻ này là cái tượng quân tử bị tiểu nhân bao vây, chỉ có hai hào là tạm tốt (hào 2 và 5) còn các hào khác đều xấu. Lời khuyên quan trọng nhất là gặp thời hiểm, phải giữ lòng chí thành, và biết tòng quyền
30 . QUẺ THUẦN LI
Trên dưới đều Li (lửa)

Khảm là hảm, mà hảm thì phải có chổ nương tựa, cho nên sau quẻ khảm tới quẻ Li. Li là lệ; thời xưa hai chữ đó đọc như nhau, dùng thay nhau được, như nước Cao Li (Triều Tiên) viết là. Mà lệ có nghĩa là phụ thuộc vào (như từ lệ thuộc vào), dựa vào. Theo hình quẻ, một nét âm ở giữa dựa vào hai nét âm trên và dưới
Li còn có nghĩa thứ nhì là sáng : nét ở giữa đứt, tức là rỗng, rỗng có nghĩa là sáng. Lửa sáng, mặt trời sáng, cho nên Li có tượng là lửa là mặt trời
Sau cùng Li còn có nghĩa là rời ra, nhu6 chia li
Kinh Dịch mở đấu bằng hai quẻ Càn, Khôn (trời đất); tới giữa Kinh, (cuối phần thượng của kKinh) là hai quẻ Khảm, Li, vì hai lẽ :
Ba hào thuần dương là Càn, lấy một hào của Khôn thay vàohào giữa của Càn, thành Li; ba hào thuần âm là Khôn, lấy một hào của Càn thay vào hào giữa của Khôn, thành Khảm; vậy Li, Khảm là “thiên địa chi trung”, ở giữa trời, giữa đất; công dụng tạo hóa của trời đất là lửa và nước (Li và Khảm) cả. Khảmở chính bắc, Li ở chính nam; Khảm ở giữa đêm (giờ tí), Li ở giữa trưa (giờ ngọ)
Khảm, ở giữa là nét dương liền, thực, cho nên đức của nó là trung thực. Li, ở giữa là nét đứt, hư rỗng, cho nên đức của nó là sáng là văn minh
Thoán từ
Li : lợi trinh, hanh. Súc tầm ngưu, cát
Dịch : dựa lệ thuộc : chính đáng thì lợi, hanh thông. Nuôi bò cái thì tốt
Giảng : Dựa vào chổ chính đáng, chẳng hạn người quân tử thì hanh thông. Dựa vào người thì phải sáng suốt, và thụân theo người, vậy phải nuôi đức thuận, đức của con bò cái (loài này dể bảo)thì mới tốt
Li còn nghĩa là sáng, Quẻ thuần Li, trên dưới là Li, sáng quá, sáng suốt quá, tỏ mình hơn người thì ít người ưa, cho nên dấu bớt sáng đi mà trao dồi đức thuận
Thoán truyện bảo phải có đức trung chínhnữa như hào 2và hào 5 ( hào này chí trung thôi, nhưng đã đắt trung thì cũng ít nhiều đắc chính) như vậy mới cải hóa được thiên hạ, thành văn minh
Hào từ :
Sơ cữu : Lí thác nhiên, kính chi, vô cửu
Dịch : Hào 1, dương : Dẫm bậy bạ; phải thận trọng thì không có lỗi
Giảng : Hào này dương có nghĩa là nóng nảy, cầu tiến quá, mà còn non nớt, chưa có kinh nghiệm, như đứa trẻ vội vàng dẫm bậy bạ (Phan Bội Châu hiểu là xỏ giày nhố nhăng), tất có lỗi lầm, nên khuyên phải thận trọng (kính chi)
Lục nhị : Hoàng li, nguyên cát
Dịch : Hào 2 âm : Sắc vàng phụ vào ở giữa, rất tốt
Giảng : Hào âm này ở quẻ Li có đức văn minh, lại đắc trung, đắc chính, trên ứng với hào 5 cùng văn minh, đắc trung nên rất tốt. Vì ở giữa va7n minh, nên ví như sắc vàng, đẹp, sắc của trung ương như đã giảng ở hào 5 quẻ Khôn và hào 5 quẻ Phệ hạp
cửu tam : Nhật đắc chi lí, bất cổ
phẫu nhi ca, tắc đại diện chi ta, hung
Dịch : Hào 3, dương : Mặt trời xế chiều gần lặng (ý nói người già, tính tình thất thường, không đáng vui mà vui, không đáng buồn mà buồn), khi thì gỏ cái phẩu(vỏ bằng đất, đựng rượu mà cũng dùng làm nhạc khí)mà hát, lúc lại than thân già nua; xấu (Hồi xưa khi hát gỏ nhịp bằng cái phẫu)
GiảngHào 3 ở trên cùng nội quái Li, như mặt trời sắp lặn mà chưa lên ngoại quái Li, chưa tới lúc mặt trời mọc (sáng hôm sau)
Câu “bất cổ phẫu nhi ca, tằc đại diệt chi ta”, Chu Hi hiểu là “chẳng yên phận mà vui vẻ, mà lại than thở vì già nua, thế là không biết tự xử”
Cửu tứ : đột như, kì lai như, phần như tử như , khí như
Dịch : Hào 4, dương : Thình lình cạhy tới như muốn đốt người ta vậy, thì sẽ chết, bị mọi người bỏ
Giảng : Hào 4 này dương cương, nóng nảy, bất chính, bất trung, mới ở nội quái lên, gặp hào 5 âm nhu, muốn lấn át hào 5, như một người thình lình chạy tới, lồng lộn lên như muốn đốt người ta (hào 5), táo bạo vụng về như vậy làm sao khỏi chết, khôn gai dung được đâu
Lục ngũ : Xuất thế đà nhược, thích ta nhược, cát
Dịch : Hào 5 âm : Nước mắt ròng ròng, nhưng biết buồn lo than thở, nên tốt
Giảng : Hào này âm nhu, ở ngôi đắc tôn, trung nhưng không chính, bị ép giữa hai hào dương, mắc vào hoàn cảnh khó khăn, cho nên bảo là “nước mắt ròng ròng”; nhưng nhờ đức văn minh của quẻ Li, nên là người biết lo tính, than thở, tìm cách đối phó với hoàn cảnh được, nên rất tốt
Thượng cửu : Vương dụng xuất chinh
hữu gia; chiết thủ, hoạch phỉ kì xú, vô cữu
Dịch : Hào trên cùng, dương : Vua dùng người có tài (tức hào này) để ra quân chinh phạt , có lòng tốt đẹp, giết đầu đảng mà bắt sống đầu đảng theo thôi, như vậy là không có lỗi
Giảng : Hào này dương cương lại ở trên cùng quẻ Li, thế là vừa cương quyết vừa sáng suốt đến cực điể, vua dùng tài ấy để trừ kẻ gian tà thì thành công lớn
Nhưng vì quá cương nên dể hóa tàn bạo, nên Hào từ khuyên dẹp loạn nên giết kẻ đầu xỏ, còn những kẻ đi theo thì bắt sống, thế thì không có lỗi











