21 . QUẺ HỎA LÔI PHỆ HẠP

Trên là Li (lửa), dưới là Châán (sấm)

Tự quán truyện giảng : tình, lý có chổ khả quan rồi sau mới hợp nhau được; nhưng muốn cho hợp nhau thì trước hết phải trừ sự ngăn cách đã, cho nên sau quẻ Quan, tới quẻ Phệ hạp. Phệ là cắn, là trừ ( sự ngăn cách ), hạp là hợi.

Thoán từ :

 

Phệ hạp: Hanh, lợi dụng ngục.

Dịch : Căn đế hợp lại, như vậy là hanh thông; dùng vào việc hình ngục thì có lợi.

Giảng : Quẻ Phệ hạp này nói về việc hình ngục .

Hào sơ và hào trên cùng là hai vạch liền, tượng như hàm trên và hàm dưới; ở giữa có ba vạch đứt, là miệng há ra; xen vào một vạch liền như một cái que càn ngang miệng, làm gián cách hai hàm răng; Phải cắn gây, trừ nó đi rồi hai hàm mới hợp với nhau được.

Trong xã hội, kẻ gián cách đó là bọn gian tà, sàm ninh bưng bít kẻ trên người dưới mà trên không thông tới dưới, dưới không đạt tới trên. Cho nên phải dùng hình ngục để trừ chúng.

Hình ngục muốn có kết quả thì phải vừa uy, vừa sáng suốt Nối quái Chấn là uy; ngoại quái Li là sáng suốt.

Lại xét riêng hào 5, hào làm chủ trong quẻ; nó ở ngôi ca, âm nhu mà đắc trung, là có ý khuyên dùng hìng ngục tuy phải uy, phải cương, nhưng vẫn nên có một chút nhu, hiêu sinh; nếu chỉ cương thôi thì hoá ra tàn khốc, hiếu sát mất.

Đó là đại yù Thoán truyện. Đại tượng truyện bảo tiên vương theo ý nghĩa quẻ Phệ hạp này mà làm sáng tỏ sự trừng phạt và răn bảo bằng pháp luật. ( Tiên vương dĩ minh phạt, sắc pháp: cũng có nguời hiểu là sắp đặt pháp luật, hoặc ban bố pháp luật )

Hào từ :

 

Sơ cứu : Lí (1) giảo diệt chỉ, vô cửu.

Dịch : hào 1, dương: Ví như chân đạp vào cái cùm mà đứt ngón chân cái, không có lỗi lớn.

Giảng : trong quẻ này hào 1 và hào trên cùng là người không có chức vị, bị chịu hình; còn 4 hào kia là người có chức vị, áp dụng hình pháp.

(1)Nhiều sách chép là lũ)chiếc dép), nhưng giải ngĩa là giẫm lên, cũng như chữ .

Hào 1 ở dưới cùng là hạng dân thường, mới làm bậy mà bị tội nhẹ (cùm chân, chặt ngón chân cái) thì sẽ sợ phép nước mà sau không làm điều ác nữa, cho nên không có lỗi lớn.

 

Lục nhị :Phệ phu, diệt tị, vô cửu.

Dịch : Hào 2, âm : Cắn miếng thịt mềm, sứt cái mũi, không có lỗi.

Giảng : Hào này cũng như ba hào sau, dùng chữ phệ (cắn) để trỏ người dùng hình pháp.

Hào hai âm nhu, đắc trung, chính, lại được hào 5 ứng, tức là người được vua ủy cho quyền hình pháp, vì vậy dễ thu phục được kẻ có tội, công việc dễ như cắn miếng thịt mềm. Nhưng vì hào 2 cưỡi lên hào 1 dương cương, tức như gặp kẻ ương ngạnh, nên phải quá tay một chút, kẻ bị tội bị chịu hình phạt khá đau, như bị cắn vào mũi; đó là lỗi của hắn chứ hào 2 vẫn trung chính, không có lỗi.

 

Lục tam:Phệ tích nhục, ngộ độc, tiểu lận, vô cửu.

Dịch hào 3, âm : Cắn phải miếng thịt có xương lại ngộ độâc, đáng ân hận một chút nhưng, không có lỗi.

 

Giảng : Hào 3 âm : không trung chính, dùng hình ngục và không được người phục, có phần còn bị oán nữa, như cắn phảimiếng thịt có xương lại ngộ độc; nhưng ở vào quẻ Phệ hạp, dùng hình pháp để giữ trật tự cho xã hội, cho nên việc làm của mình tuy đáng ân hận, mà không có lỗi lớn.

 

Cửu tứ : Phệ can trỉ (có ngưới đọc là tỉ)

 

đắc kim thi, lơi gian trinh, cát

Dịch : Hào 4, dương : Cắn phải thứ thịt liền xương mà phơi khô, được mũi tên đồng, chịu khó nhọc mà vững lòng giữ đường chính thì tốt.

Giảng : Hào này dương cương ở gần ngôi chí tôn (hào 5) là người cương trực, có trách nhiệm; lại ở gần ngoại quái Li, nên có tài minh đoán, cho nên dù gặp kẻ ngoan cố cũng trị được dễ dàng, như cắn được miếng thịt liền xương (cứng) phơi khô, mà vẫn giữ dược đạo cương trực, tượng bằng mũi tên bằng đồng.

Nhưng vì hào này cương, mà cương quyến e gặp khó khăn, nên Hào này khuyên phải chịu khó nhọc; tuy cương vị mà lại nhu (hào thứ 4, chẵn), nên lại khuyên phải vững chí. Có hai điều kiện thì mới tốt.

 

Lục ngũ : Phệ can nhục, đắc hoàng kim, trinh, lệ vô cữu.

Dịch : Hào 5, âm : Cắn miếng thịt khô, được vàng ( danh dự quí báo); phải giữ vững đạo, thường lo sợ, thì không có lỗi.

Giảng : Hào này ở ngôi tôn, vừa nhu (âm) vừa cương (ở vị lẻ) đắc trung sáng suốt (giữa ngoại quí Li), lại có hào 4 có tài minh đoán giúp sức, nên dễ dàng như cắn thịt khô, được người phục, được danh dự lớn (tượng trưng bằng vàng). Nhưng cũng phải giữ vững đạo, thận trọng, biết lo sợ thì không có lỗi.

Có sách giảng về hai chữ “hoàng kim” như sau : kim là vật quí, tượng trưng ngôi chí tôn của hào 5; hoàng là sắc của đất, của trung ương(đen là màu của phương bắc, đỏ của phương nam, xanh của phương đông, trắng của phương tây), tượng trưng đức trung của hào 5.

 

Thượng cửu : Hạ (1) giảo diệt nhĩ, hung.

(1)Chữ này ở đây dọc là ha, nghĩa là đội, ganh.

Dịch : Hào trên cùng, dương : Cố tra vào gông, bị tội cắt tai, xấu.

Giảng : Hào này lại nói về kẻ thù hình như hào 1. Xấu hơn hào 1, vì dương cương lại ở cuối quẻ, trỏ hạng ở cực áo, nên bị tội nặng : đeo gông, cắt tai.

Theo Hệ từ hạ truyện, Chương V thì Khổng tử bàn như sau : “… không tích luỹ nhiều điều ác thì không đến nỗi bị diệt thân thể (như hào này). Kẻ tiểu nhân cho rằng (…) một điều ác nhỏ là vô hại, nên cứ làm; vì vậy mà điều ác cứ tích luỹ tới lúc (..) tội hoá lớn mà không thể tha thứ được.

Quẻ này xét về việc hình ngục, đại ý khuyên :

- Người xử hình phải sáng suốt trước hết, cương quyến mà cũng cần có đức nhu (để bớt cương đi), có chút từ tâm, và luôn phải giữ đạo chính, thận trọng (hào 5).

Hào 4 cũng tốt, vì vừa cương vừa nhu, có tài và có địa vị.

- Nên răn đe dân từ khi dân mới mắc phải tội nhỏ, nếu không dân sẽ quen làm bậy, ác cứ tích lũy mà mắc tội lớn.

 

22 . QUẺ SƠN HỎA BÍ.

Trên là Cấn (núi), dưới là Li (lửa).

Đám đông, hợp lại với nhau thì phải có trật tự, có văn vẻ, cho nên tiếp theo quẻ Phệ hạp là quẻ Bí. Bí là văn vẻ, rực rở, sáng sủa trang sức.

Thoán từ :

 

Bí : hanh, tiểu lợi, hữu du vàng.

Dịch : Trang sức văn vẻ thì hanh thông, làm việc gì mà chỉ nhờ ở trang sức thì lợi bé nhỏ mà thôi.

Giảng : Trên là núi, dưới là vàng; lửa chiếu sáng mọi vật ở trên núi, như vậy làm cho núi đẹp lên, trang sức cho núi.

Còn một cách giảng nữa : trong nội quát (vốn là quẻ đơn Càn) hào 2, âm, vốn ở quẻ đơn Khôn, thay vào hào 2 dương của quẻ dơn Càn. Trong ngoại quái (vốn là quẻ đơn Khôn) hào trên cùng vốn là ở quẻ đơn Càn, lại thay hào trên cùng của quẻ đơn Khôn, thành quẻ đơn Cấn.

Nói cách khác, vắn tắt mà không sai mấy thì nội quái có một hào âm trang sức cho hai hào dương; còn ngoại quái có một hào dương trang sức cho hai hào âm, vì vậy mà gọi là quẻ Bí : trang sức.

Vật gì cũng vậy : có chất, tinh thần; mà lại thêm văn, hình thức, thì tốt (hanh thông), nhưng nế chỉ nhờ ở trang sức mà thành công thì lợi ích thôi.

Thoán truyện bàn rộng thêm : âm nhu và dương cương giao với nhau, thay đổi lẫn nhau (tức hào hai và hào trên cùng như trên mới giảng), đó là cái văn vẻ tự nhiên (thiên văn) của trời; còn cái văn vẻ nhân tạo (nhân văn) thì nên hạn chế (quẻ Cấn ở trên có ngĩa là ngăn, hạn ché), vì tuy nó có công giao hoá thiên hạ, nhưng nhiều quá thì văn thắng chất, xấu.

Đại tượng truyên còn khuyên : Việc chính sự nhỏ thì dùng trang sức được; còn việc quan trọng như phán đoán hình thì đừng nên quả quyến, tô điểm thêm.

Hào từ :

 

Sơ cửu : Bí kì chỉ, xả xa nhi đồ.

Dịch : Hào 1, dương, Trang sức, trau giồi ngón chân (địa vị thấp) của mình; bỏ cách sung sướng là ngồi xe mà nên đi bộ (chịu khó nhọc).

Giảng : Hào này dương cương, ở cuối cùng nội quái Li, tức như người có đức sáng suốt mà ở địa vi6 thấp nhất. Chỉ nên trao dồi phẩm hạnh của mình trong địa vị đó (ví như ngón chân, bộ phận thấp nhất của cơ thể) mà an bần, chịu đi bộ chứ đừng ngồi xe

Lục nhị : Bí kì tu

Giảng : chử tu ở đây có nghĩa là râu, củng như chữ tu

Hào này nằm chử nội quái Li, có công dụng trang sức cho quẻ Li, đặc biệt là cho hào 3 dương ở trên nó, cho nên ví nó như bộ râu trang sức cho cằm (hào 3). Nó phải phụ vào hào 3 mà hành động. Hào 3 có tốt thì tắc động của hào 2 mới tốt, cũng như có cái cằm đẹp thì để râu mới thêm đẹp, nếu cằm xấu thì để râu càng khó coi. Nói rộng ra thì bản chất phải tốt, xứng với sự trang sức; chất và văn phải xứng nhau

 

Cữu tam : Bí như, nhu như, vĩnh trinh cát

Dịch : Hào 3, dương : Trang sức mà đằm thắm, hễ giữ vững chính đạo thì tốt

Giảng : Hào này dương cương, đắc chính, lại ở trên cùng nội quái Li, có cái nghĩa rất văn minh; tượng trương cho người có tài trang sức cho hai hào âm ở trên và ở dưới nó, tính rất đằm thắm với hai hào âm (có người dịch “nhu như”là trang sức một cách thuần nhã, thấm nhuần). Vì vậy mà nên coi chừ, đừng say mê vì tư tình, mà phải bền giữ chính đạo thì mới tốt, không bị người xâm lấn (mạc chi lăng dă: Tiểu tượng truyện)

 

Lục tứ : Bí như, bà(có người đọc là ba) như, bạch mã hàn như, phi khấu hôn cấu:

Dịch : hào 4, âm : Muốn trang sức cho nhau (nhưng không được) nên chỉ thấy trắng toát. Hào 4 như cưỡi ngựa trắng mà chạy như bay (đuổi kịp hào1), rốt cuộc cưới nhau được vì kẻ gián cách hai bên (hào 3) không phải kẻ cướp ( người xấu)

Giảng : Hào 4 âm nhu, ứng với hào 1 dương cương, cả hai đều đắc chính, tình ý hợp nhau, muốn trang sức cho nhau, nhưng bị hào 3 ở giữa ngăn cách, nên không trang sức cho nhau được chỉ thấy trắng toát (trắng nghĩa là không có màu, không trang sức). Mặ dù bị 3 cản trở, 4 cố đuổi theo 1, rốt cuộc 3 vốn cương chính, không phải là xấu, không muốn hại 1 và 4, cặp này kết hôn được

 

Lục ngũ : Bí vu khâu viên, thúc bạch,

 

Tiên Tiên Lận Chung cát

Dịch : Hào 5, âm : Trang sức ở gò vườn, mà dùng tấm lụa nhỏ, mỏng, tuy là bủn xỉn, đáng chê cười, nhưng rốt cuộc được tốt lành

Giàng : Hào 5, âm nhu, d8át trung, làm chủ quẻ Bí; vì là âm nhu có tính quá tằn tiện, lo trang sức cái gì hữu dụng như vườn tược thôi, mà chỉ dùng tấm lụa nhỏ, mỏng cho đỡ tốn,

cho nên bị cười chê, nhưng như vậy còn hơn là xa hoa, mà biết trọng cái gốc của sự chất phác, cho nên cuối cùng vẫn được tốt lành, có hạnh phúc cho dân (hữu hỉ dã : lời Tiểu tượng truyện)

 

Thượng cữu : Bạch bí, vô cữu

Dịch : Hào trên cùng dương. Lấy sự tố phác, như màu trắng (không màu mè gì cả) làm trang sứs, không có lỗi

Giảng : Hào này là thời cuối cùng của quẻ Bí, trang sức, màu mè đã cùng cực rồi; mà vật cực tắc phả, người ta lại trở lại sự chất phát, nên không có lỗi gì cả. Trong văn học sử, chúng ta thấy sau những thời duy mỹ quá mức, người ta “phục cổ” trở lại lối văn bình dị, tự nhiên thời xưa

 

Đại ý quẻ này là có văn vẻ, có trang sức mới là văn minh, nhưng vẫn nên trọng chất văn, lấy chất làm thể, lấy văn làm dụng, và không nên xa hoa màu mè quá

 

23 QUẺ SƠN ĐỊA BÁC

Trên là Cấn (núi), dưới là Khôn (đất)

Bí là trang sức, trau dồi; trau dồi tới cực điểm, thì mòn hết. Cho nên sau quẻ Bí tới quẻ Bác. Bác là mòn, là bóc, lột bỏ cho tiêu mòn dần

Thoán từ :

 

Dịch : Tiêu mòn : Hễ tiến tới (hành động) thì không lợi

Giảng : Theo Tượng quẻ, măn hào âm chiếm chỗ của dương, âm tới lúc cực thịnh, còn dương chỉ còn một hào, sắp tới lúc tiêu hết. Do đó gọi là quẻ thịnh, dương, chỉ còn một hào sắp tới lúc tiêu hết. Do đó gọi là quẻ Bác. Ở thời tiểu nhân đắc chí hoành hành, quân tử (hào dương ở trên cùng) chỉ nên chờ một thời, không nên manh động. Chờ thời theo luật tự nhiên, âm thịnh cưc rồi sẽ suy, mà dương suy cực rồi sẽ thịnh. (Lão Tử khuyên : “đại trí nhược ngu, đại dũng nhược khiếp, đại xảo nhược chuyết (vụng) nghĩa là phải tạm giấu cái khôn, cái khéo, cái dũng của mình để được yên thân chờ cơ hội)

Thoán truyện : giảng thêm : nên thuận đạo trời mà ngưng mọi hoạt động vì nội quái là Khôn, có nghĩa là thuận, ngoại quái là Chấn, có nghĩa là ngưng, mà đạo trời là hết hao mòn (tiêu) thì sẽ phát sinh (tức) – nói về các hào dương; mà hết đầy (doanh) thì sẽ trống không (hư) – nói về các hào âm trong quẻ này

Đại tượng truỵên : chỉ xét tượng của quẻ này mà đưa ra một nghĩa khác : ngoại quái là núi, nội quái là đất, đất là nền móng của núi; đất có dày thì núi mới vửng; vậy người trên (nhà cầm quyền) phải lo cho dân an cư lạc nghiệp thì địa vị người trên mới vững. Ý đó thêm vào, không có trong thoán từ

Hào từ :

 

Sơ lục : Bác sàng dĩ túc, miệt trinh, hung

Dịch : Hào 1, âm : như cắt (phá hoại) chân giường, (lần lần sẽ) làm tiêu diệt đạo chính của quân tử, xấu

Giảng : âm (tiểu nhân) bắt đầu tiêu diệt dương (quân tử), cũng như bắt đầu phá cái giường từ dưới chân trở lên

 

Lục nhị : Bác sàng dĩ biện, miệt trinh, hung

Dịch : Hào 2, âm : Như phá tới then giường (có người dịch là thành giường, hay sườn giường), tiêu diệt đạo chính của người quân tử, xấu

Giảng : Nghĩa hào này cũng như hào 1; bọn tiểu nhân cũng tiến thêm một bước nữa, phá tới then giường rồi, chưa tới mặt giường

 

Lục tam : Bác chi, vô cữu

Dịch : Hào 3, âm : Phá bỏ bè đảng của mình, không có lỗi

Giảng : Hào này cưng là âm nhu, tiểu nhân, nhưng vì ứng với hào dương, quân tử, ở trên cùng, cho nên theo hào đó mà bỏ các hào âm ở trên và dưới nó ( tức các hào 1, 2, 4), chịu mất lòng với các hào âm (lời Tiểu tượng truyện) mà theo đạo chính, cho nên không có lỗi

 

Lục tứ : Bác sàng dĩ phu, hung

Dịch : Hào 4, âm : Phá giường mà xẻo tới da thịt người nằm nữa, xấu

Giảng : Hào âm này đã lên tới ngoại quái, thế là tiểu nhân đã hoành hành, quân tử bị hại quá đau, tai họa bức thiết rồi; xấu

 

Lục ngũ : Quán ngữ, dĩ cung nhân sủng, vô bất lợi

Dịch : Hào 5, âm : Dắt bầy cung nhân như một xâu cá (ám chỉ bầy tiểu nhân), để lên hầu vua (tức theo người quân tử, hào dương ở trên cùng), như vậy là tiểu nhânbiết thuận tòng quân tử, không có gì là không lợi

Giảng : Hài này làm thủ lảnh bầy âm. Theo nghĩa mấy hào trên, chúng ta tưởng hào này phá mạnh hạng quân tử hơn nữa; nhưng ngược lại, Hào từ lấy lẽ rằng hào 5 ở sát hào dương ở trên cùng thân cận với 6, chịu ảnh hưởng tốt của 6, nên dắt cả bầy âm (ví như dắt cả xâu cá – cá thuộc loài âm) để theo hào 6 quân tử cũng như bà hậu dắt bầy cung phi lên gặp vua, thể là theo đạo chính, cho nên không gì là không lợi.

Theo Phan Bội Châu, sở dĩ cỗ nhân tới hào này bỏ cái âm tiêu diệt dương, mà cho cái âm thuận theo dương, là để khuyên tiểu nhân cải tà qui chánh, mà giúp đỡ quân tử. Kinh Dịch “Vị quân tử mưu” (lo tính cho người quân tử) là nghĩa đó. Có thể như vậy. Lý do chính thì coi hào sau ta sẽ thấy.

 

Thượng cửu : Thạc quả bất thực.

 

quân tử đắc dư, tiểu nhân bắc lư.

Dịch : Hào trên cùng, dương : Còn một trái lớn trên cây, không hái xuống ăn. (ý nói dương tức quân tử không bao giờ hết). Quân tử ở hào này được quần chúng ( dư) theo; còn tiểu nhân thì biết rằng nếu diệt hết quân tử tức là phá đổ nhà chúngở( chúng cũng không còn).

Giảng : Cả quẻ chỉ mỗi hào này là dương cho nên ví với trái cây lớn còn lại trên cành, không hái xuống ăn thì có ngày nó sẽ rụng mà mọc mầm, như là đạo quân tử không bao giờ hết. Hào 3 vạ kéo các hào âm khác theo hào dương này, cho nên bảo là quân tử được dân chúng theo. Hào này dương này ở trên cùng, cũng như cái nhà che cho tất cả các hào âm ở dưới. Nếu bọn tiểu nhân phá nhà đó cho sập – nghĩa bóng là không có quân tử thì quốc gia suy vong, chủng tộc tiêu diệt – thì chúng cũng không sống được, không có chốn dung thân.

Vậy ta thấy sỡ dĩ ChuCông, người viết Hào từ, cho hào 5 theo hào trên cùng (âm theo dương) là vì lẽ có thể xã hội mới tồn tại đươc, không khi nào người tốt bị tiêu diệt hết.

Quẻ này nói về thời âm thịnh dương suy, tiểu nhân tàn hại quân tử; tiểu nhân tuy rất đông, nhưng vẫn có một số (hào 3 và 5) hiểu đạo cải quá, đứng về phe quân tử, và khi xã hội lâm nguy thì đứng về phía quân tử. Người quân tử mới đầu chỉ nên im hơi lặng tiếng mà chờ thời, chuẩn bị cho lúc thịnh trở lại.

Đó là luật âm dương trong vũ trụ; vũ trụ luôn luôn có âm, dương; khi âm cực thịnh, vẫn còn dương, khi dương cực thịnh cũng vẫn còn âm, âm dương cứ thay nhau lên xuống, thế thôi.

 

24. QUẺ ĐỊA LÔI PHỤC

Trên là Khôn (đất), dưới là Chấn (sấm).

Vật không bao giờ tới cùng tận; quẻ Bác, hào dương ở trên cùng thì quay trở xuống ở dưới cùng (cùng thượng phản hạ); cho nên sau quẻ Bác tới quẻ Phục. Phục là trở lại (phát sinh ở dưới). Như vậy là đạo tiểu nhân cực thịnh thì phải tiêu, đạo quân tử suy cực thì lại thịnh lần

Thoán từ :

 

Phục : Hanh, Xuất nhập vô tật, bằng lai vô cữu

 

Phản phục kì đạo, thất thập lai phục, lợi hữu du vãng

Dịch : trở lại : hanh thông. Ra vào không gặp tai nạn, bạn bè sẽ lần lượt tới, không lầm lỗi nữa. Vận trời phản phục (tráo đi trở lại) , cứ bảy ngày thì trở lại, hành động việc gì cũng có lợi

Giảng : khí dương bây giờ trở lại, cho nên hanh thông. Người quân tử (dương) ra vào tự do, không bị tai nạn, rồi sẽ có các hào dương khác kéo nhau tới, cưng như bạn bè kéo tới, không còn lầm lỗi nữa (ý muốn nói; sau quẻ này sẽ tới quẻ Lâm, có hai hào dương ở dưới, rồi tới quẻ Thái, có ba hào dương ở dưới, tới quẻ Đại tráng (4 hào dương) quẻ Quải, (5 hào dương) quẻ Càn (cả 6 hào đều dương), thế là sáu quẻ dương tăng lần. Đó là vận phản phục của trời đất, cứ bảy ngày thì trở lại. Chử nhật (ngày) ở đây thay cho chử hào; bảy ngày mới trở lại vì sau quẻ Càn, tới quẻ Cấu, một hào âm sinh ở dưới 5hào dương, ngược lại với quẻ Phục (một hào dương dưới 5 hào âm), lúc đó mới hết một vòng (1)

Thoán truyện giảng thêm : Sở dỉ ra vào không bị tai nạn, bạn bè kéo tới, không còn lỗi lầm, vì tượng củ quẻ : nội quái Chấn là động, ngoại quái Khôn là thuận;hoạt động mà thuận theo đạo trời đất thì tốt. Cái đạo của trờ đó là tĩnh lâu rồi thì động, ác nhiều rồi thì thiện, có vậy vạn vật mới sinh sôi nảy nở. Xem một quẻ Phục này thấy một hào dương bắt đầu trở lại, tức là thấy cái lòng yêu, nuôi dưỡng vạn vật của trời đất (kiến thiên địa chi tâm)

Đại tượng truyện bảo các vua đời xưa tới ngày đông chí, ngày mà dương bắt đầu dương (tượng của quẻ Phục : sấm nấp ở dưới đất) thì đóng các cửa ải, không cho khách đi đường và con buôn qua lại, mà vua cũng không đi xem xét các địa phương, là có ý muốn yên lăng để nuôi cái khí dương mới sinh

Hào từ :

 

Sơ cữu : Bất viễn phục, vô kì hối, nguyên cát

Dịch : Hào 1, dương. Tuy lầm lỗi, nhưng thời gian chẳng xa, trở lại tốt lành ngay, thì không đến nỗi ăn năn lớn; rất tốt (chữ Kì ỡ đây có nghĩa là lớn)

(1) : Quẻ Phục là thánh 11 âm lịch, quẻ Lâm : tháng 12, Thái : tháng Giêng, Đại tráng : tháng 2, Quải : tháng 3, Càn : tháng 4, Cấu : tháng5, từ Phục đến Cấu là 7 quẻ ( 7 tháng), tính theo lối Trung Hoa

Giảng : Hào 1, dương cương, ở đầu quẻ Phục, có nghĩa là người đầu tiên trở lại đạo, biết tu thân, nên rất tốt

Theo Hệ từ hạ truyện chượng, thì Khổnh Tử cho rằng Nhan Hồi có đức của hào 1 này, vì Nhan có lỗi lầm gì thì biết ngay mà biết rồi thì sữa liền không mắc lần thứ nhì nữa

 

Lục nhị : Hưu phục, cát

Dịch : Hào này âm nhu đắc trung, chính, vốn tốt rồi, mà lại ở gần hào 1 là người quân tử, tức là người biết khắc kỉ, trở lại đạo nhân nghĩa; cho nên tuy là âm mà tốt lành

 

Lục tam : Tần phục, lệ, vô cữu

Dịch : Hào 3, âm (Mắc lỗi nhưng) sữa lại nhiều lần, tuy đáng nguy, mà kết quả không có lỗi

Giảng : Hào này bất trung, bất chính, lại ở thời cuối cùng của nội quái Chấn (có nghĩa là động) ví như người không bền chí, theo điều thiện không được lâu, sữa lỗi rồi mắc lỗi trở lại, như thế là đáng nguy (lệ) nhưng lại biết phục thiện sữa đi sữa lại nhiều lần nên rốt cuộc không có lỗi

 

Lục tứ : Trung hành, độ phục

Dịch : Hào 4, âm : ở giữa các tiểu nhân (các hào âm : 2, 3 và 5, 6), mà một mình trở lại theo quân tử (hào 1), tức theo đạo

Giảng : Hào này âm nhu, đắc chình ở giữa các hào âm, nhưng chỉ một mình nó ứng với hào 1 dương, quân tử, cho nên hào từ khen là một mình nó biết theo người thiện

 

Lục ngũ : Đôn phục vô hối

Dịch : Hào 5, âm : có đức dày trở lại điều thiện, không có gì hối hận

Giảng : Hào này nhu thuận, đắc trung lại ở vị tôn quí, nhu một người có đức dày phục thiện (trở lại điều thiện) biết tự sữa mình, cho nên không hối hận

 

Thượng lục : Mê phục, hung, hữu tại sảnh

 

dụng hành sư, chung hữu đại bại, dĩ kì quốc

 

quân hung, chí vu thập thiên, bất khắc chính

Dịch : hào trên cùng, âm : mê muội không trở lại (1), sẽ bị tai vạ từ ngoài đưa đến (tai) và tự mình gây nên (sảnh); đã vậy lại cậy võ lực mà dùng quân đàn áp người, rốt cuộc sẽ đại bại, làm cho quốc quân bị khốn nạn (hung) tới mười năm (tới chung cực) cũng không khá được

Giảng : Hào này ở trên cùng, như kẻ tiểu nhân hôn mê đến cùng cực, không biết trở lại, cho nên bị đủ thứ tai vạ, Nó có thế lực nhất trong các hào âm (đám tiểu nhân) vì vậy ở trên cùng, muốn dùng võ lực đàn áp người, rốt cuộc sẽ đại bại, gây vạ lây cho nước nó, không bao giờ khá được. Chử thập ( số 10) là số cuối cùng ( số 1 là số đầu) cho nên thập niên ở đây có nghĩa là tới cùng, chứ không nhất định là 10 na7m

Tiểu tượng truyện bảo hào trên cùng sở dĩ hunglà vì làm trái đạo vua (phản quân đạo), tức đạo ở hào 1. Hào 1 này là hào dương duy nhất trong quỷ, làm chủ cả quẻ nên gọi là vua

(1) : R.Wilhem dịch là : missing the return : bỏ lở thời trở lại

Quẻ này xét về sự sữa lỗi để trở về đường chính. Tốt nhất là hạng người tự nhận thấy lỗi rồi sữa liền, không mắc phải lần nữa; rồi tới hạng gần người tốt, mà bắt chước vui ve8 làm điều nhân, nghĩa; sau tới hạng có đức dày trở lại điều thiện, hạng ở giữa kẻ xấu mà một mình theo đạo; hạng không bền chí, giữ điều thiện được lâu, nhưng biết phục thiện thì không có lỗi

Xấu nhất là hạng mê muội không biết trở lại đường chính. Ý nghĩa không có gì đặc biệt

 

25 . QUẺ THIÊN LÔI VÔ VỌNG

Trên là Càn (trời), dưới là Chấn (sấm)

Đã trở lại thiên lí, chính đạo rồi mà không làm càn nữa, cho nên sau quẻ Phục là quẻ Vô vọng. Vọng có nghĩa là càn, bậy

Thoán từ :

 

Vô vọng : Nguyên hanh, lợi trinh

 

Kì phi chính hữu sảnh, bất lợi hữu du vãng

Dịch : Không càn bậy thì rất hanh thông, hợp với chính đạo thì có lợi. Cái gì không hợp với chính đạo thì có hại, hành động thì không có lợi

Giảng : Tượng quẻ này : nội quái là Chấn (Nghĩa là động, hành động); ngoại quái là Càn (trờii); hành động mà hợp với lẽ trời thì không càn bậy. Không càn bậy thì hanh thông, có lợi

Thoán truyện giảng rỏ thêm :

Nôi quái nhuy6en là quẻ Khôn, mà hào 1, âm biết thành dương, thành quẻ Chấn. Thế là dương ở ngoài tới làm chủ nội quái, mà cũng làm chủ cả quẻ Vô vọng, vì ý chính trong Vô vọng là: động, hành động. Động là cương quyết như ngoại quái Càn, tức là không càn bậy

Xét về các hào thì hào 5 dương cương, trung chính, ứng với hào 2 cũng trung chính, thế thì hợp thiên lí, rất hanh thông

Ở thời Vô vọng (không càn bậy) mình không giữ chính đạo mà đi thì đi đâu được / Chử đi (vãng) ở đây có nghĩa rộng là hàmh động (nguyên văn : Vô vọng chi vãng, hà chi hĩ / nên hiểu là : Vô vọng : phỉ chính chi vãng, hà chi hĩ; chữ chi thứ nhì này có nghĩa là đi). Trái lẽ trờ thì trời không giúp, làm sao đi được /

Đại tương truyện : bàn thêm về cái đạo của trời (đất) là nuôi nấng, và thánh nhâ cũng theo đạo đó mà nuôi nấng vạn dân. Chúng tôi cho là ra ngoài lề

Hào từ

 

Sơ cữu : vô vọng, va7ng cát

Dịch : Hào 1, dương : Không càn bậy, mà tiến đi thì tốt

Giảng : Hào này dương cương, làm chủ nội quái, là người có đức, cho nên khen như vậy

 

Lục nhị : Bất canh hoạch, bất tri dư, tắc lợi hữu du vãng

Dịch : Khi cày thì không nghĩ tới lúc gặt, khi mới khai phá (tri) thì không nghĩ đến ruộng đã thuộc (dư), như vậy mà tiến tới thì có lợi

Giảng : Lời hào này quá vắn tắt, hơn điện tín ngày nay nữa, nên tối nghĩa, có nhiều sách cứ dịch từng chữ; không thông

Chu Công muốn bảo : Khi cày mà không nghĩ tới lúc gặt, khi mới khai phá mà không nghĩ tới khi ruộng đã thuộc, có nghĩa là thấy việc chính đáng phải làm thì làm mà không nghĩ tới cái lợi rồi mới làm, không chỉ trông mong và kết quả, nhu vậy mới tốt

Hào 2 âm, vừa trung vừa chính, ứng với hàoo 5 cũng trung chính; nó vốn là âm có đức thuận ở trong nội quái Chấn là động, như một người tốt hành động hợp với trung chính, nên hào từ bảo như vậymà tiến thì lợi

Có lẽ chính vì ý nghĩa hào này mà Sử Ký của Tư Mã Thiên chép tên quẻ là (TH290) (vô vọng : không mong) với nghĩa là cứ làm điều phải mà “không mong” có lợi, có kết quả. Hiễu như vậy cũng được

 

Lục tam : Vô vọng chi tai, hoặc hệ chi ngưu

 

hành nhân chi đắc, ấp nhân chi tai

Dịch : Hào 3, âm : không càn bậy mà bị tai vạ tự nhiên đến như có kẻ cột con bò ở bên đường (rồi bỏ đi chổ khác) một người đi qua (thấy con bò không ai coi), dắt trộm đi, được bò, mà người trong ấp bị nghi oan là lấy trộm bò, mà mắc oan

Giảng : Cả 6 hào trong quẻ này đều không càn bậy, nhưng hào này khác một chút là bất trung, bất chính, nên bị tai vạ; tai vạ đó chỉ vô cớ mà ma91c

 

Cữu tứ : kkhả trinh, vô cữu

Dịch : Hào 4, dương : nên giữ vững tư cách thì không có lỗi (hoặc : có thể giữ vững tư cách nên không có lỗi)

Giảng : Chữ “trinh” có hai nghĩa : chính đáng và bền. Ỡ đây nên hiểu là bền. Hào 4 này dương, không ứng hợp với hào nào cả (vì hào 1 cũng dương cương như nó), không nên hoạt động; nhưng nó cương kiện nên có thể giữ vững tư cách

 

Cữu ngũ : Vô vọng chi tật, vật dược, hữu hĩ

Dịch : Hào 5, dương : Không càn bậy mà vô cớ bị bệnh (gặp tai vạ) thì đừng uống thuốc thì sẽ hết bệnh

 

Up
Down

Copyright © 2007 TreToday.net