11 QUẺ ĐỊA THIÊN THÁI

Trên là Khôn (đất), dưới là Càn (trời)

Lí là lễ, có trật tự trên dưới phân minh, như vậy thì yên ổn, Lí cũng có nghĩa là dẫm, là giày (dép) đi giày thì đuợc yên ổn; vì vậy sau quẻ Lí, tiếp tới quẻ Thái. Thái nghĩa là yêu thích, thông thuận.

Thoán từ:

 

Thái: Tiểu vãng đại lai, cát, hanh

Dịch: Thái lá cái nhỏ (âm), đi, cái lớn (dương) lại, tốt, hanh thông

Giảng: Trong quẻ Lí, Càn là trời, cương, Đoái là chằm, nhu; trên dưới phân minh, hợp lẽ âm dương, tốt.

Trong quẻ Thái này, Càn không nên hiểu là trời, vì nếu hiểu là trời thì trời ở dưới đất, không còn trên dưới phân minh nữa, xấu. Nên hiểu Càn là khí dương, Khôn là khí âm “khí dương ở dưới có tính cách thăng mà giao tiếp với âm, khí âm ở trên có tính cách giao tiếp với khí dương”, hai khí giao hoà, mà mọi vật được yên ổn, thỏa thích

Một cách giảng nữa. Theo Phan Bội Châu (sách đã dẫn) thì:

Nguyên Thuần âm là quẻ Khôn, là âm thịnh chi cực, cực thì phải tiêu, nhân đó một nét dương thay vào dưới, hào 1 của Khôn, thành ra quẻ Phục, Phục là một dương mới sinh.

Dương sinh đến hào thứ hai thì thành quẻ Lâm, thế là dương đã lớn thêm lần lần. Khi dương sinh đến hào thứ 3 thì thành quẻ thái, trên là Khôn, dưới là Càn.

Không là âm nhu, là tiểu nhân; càn là quân tử. Quẻ thái là tượng đạo tiểu nhân dương tiêu mòn, đạo quân tử đương lớn mạnh, hai bên ngang nhau cho nên gọi là thái.

Thoán từ bàn thêm: “Thái là lúc cái nhỏ đi, cái lớn trở lại (…) là trời đất giao cảm mà muôn vật thông, trên dưới giao cảm mà chí hướng như nhau. Trong (nội quái) là dương, ngoài (ngoại quái) là âm, trong mạnh mà ngoài thuận, trong quân tử mà ngoài tiểu nhân, đạo quân tử thì lớn lên, mà đạo tiểu nhân thì tiêu lần.

Hào từ:

 

Sơ cửu: Bạt mao nhự, dĩ kỳ vị, chinh cát

Dịch: Hào 1, dương: Nhổ rễ cỏ mao mà đuợc cả đamù, tiến lên thì tốt.

Giảng: Hào này là người có tài, còn ở vị thấp, nhưng cặp với hào hai trên, như có nhóm đồng chí dắt díu nhau tiến lên, để gánh việc thiên hạ, cho nên việc làm dễ có kết quả như nhổ rễ cỏ mao, nhổ một cọng mà đuợc cà đám.

 

Cửu nhị: Bao hoang, dụng bằng hà, bất hà di.

 

bằng vong, đắc thượng vu trung hành

Dịch: Bao dung sự hoang phế ( những tệ hại cũ), dùng cách cương quyết mạo hiểm như lội qua sông, không bỏ sót những việc (hoặc người) ở xa, không nghĩ đến bè đảng, mà phải hợp với đạo trung.

Giảng: Hào dương, đắc trung, đồng chí đã đông (hào 1 và 3) lại ứng với hào 5 âm, cũng đắc trung, tức với vị nguyên thủ tin cậy, nghe theo mình, vậy là có tài lớn mà hoàn cảnh rất thuận lợi; nhưng cần có những đức này nữa:

- Có độ lượng, bao dung một số tệ hại cũ còn lại, đừng mong trừ tiệt ngay trong buổi đầu.

- Có đức cương quyết mạo hiểm như người có gan lội qua sông, như Luận ngữ nói: bạo hổ bằng hà

- Tính trước những việc xa xôi sẽ xảy tới (có người hiểu là đừng bỏ sót những người ở xa).

- Đừng có tinh thần đảng phái mà có hại cho đại nghĩa

- Cần nhất là giữ đạo trung của hào 2, việc gì cũng vừa phải thôi, chẳng hạn bao dung hay mạo hiểm quá đều là hại cả.

 

Cửu tam: Vô bình bất bí, vô vãng bất phục

 

gian trinh vo cữu, vật tuất, kỳ phu, vu thực hữu phúc

Dịch: Hào 3, dương: Không có cái gì bằng mãi mà không nghiêng, đi mãi mà không trở lại, trong cảnh gian nan,mà giữ được chính đảng thì không lỗi. Đừng lo phiền, cứ tin ở điều chính thì được hưởng phúc

Giảng: Hào 3 này bất trung, quá cương, ở cuối nội quái, giữa quẻ Thái, nghĩa là đã thịnh cực rồi, cho nên Chu Công răn rằng sắp suy đấy, sắp lâm vào cảnh gian nan đấy. nhờ đắc chính (hào dương ở ngôi dương) mà ở vào thời Thái, cho nên không đến nỗi tội lỗi. Đừng lo ngại, cứ tin ở điều chính thì được hưởng phúc .

 

Lục tứ: Phiên phiên, bất phú, dĩ kỳ lân, bất giới dĩ phu

Dịch: Hào 4, âm: Dập dìu (hoặc hớn hở) với nhau, không giàu mà thành một xóm, chẳng ước hẹn mà cũng tin nhau.

Giảng: Đây là quá nửa quẻ Thái, dương suy, bày âm (ba hào âm) tức bọn tiểu nhân kết hợp với nhau, tuy chúng không “giàu”, không có tài đức (âm có nghĩa là hư, trái với thực – dương- cho nên bảo là không giàu) nhưng cũng thành một xóm đông, đồng tâm với nhau, chẳng ước hẹn mà cùng tin nhau, vì cùng sẵn lòng gian tà cả.

 

Lục ngũ: Đế Aát quí muội, dĩ chỉ, nguyên cát.

Dịch: Như vua Đế Aát (đời Thương) cho em gái về nhà chồng có phúc, rất tốt.

Giảng: Hào âm này đắc trung, tuy ở địa vị chí tôn mà khiêm nhu, lại ứng với hào 2, dương ở dưới; như em gái vua Đế Aát chịu làm vợ một người hiền trong giới bình dân, sẽ được hưởng phúc.

 

Thượng lục: Thành phục vu hoàng, vật dụng sư,

(TH 237)

tự ấp cáo mệnh, trinh lận

Dịch: Hào tên cùng , âm: Thành đổ sụp xuống, lại chỉ là đống đất. Đừng dùng quân nữa, bất quá mệnh lệnh chỉ ban ra đuợc trong ấp mình thôi. Dù hành động của mình chính đáng nhưng vẫn thất bại mà xấu hổ .

Giảng: Đây tới lúc cuối cùng của thời Thái, sắp bĩ rồi, như cái thành sụp xuống. Vì là hào âm lại ở địa âm, đừng tranh giành (dùng quân) nữa, không cứu vãn được đâu, có ban lệnh cũng chỉ một ấp mình nghe thôi.

Hai chữ “trinh lận”, R. Wilhem giảng là: dù có kiên nhẫn (chống đỡ) cũng thất bại mà xấu hổ. Chúng tôi nghĩ hào cuối này âm nhu thái quá, không có chí kiên nhẫn được, nên dịch theo Chu Hi

*

Dưới đây chúng tôi chép thêm lời bàn của Phan Bội Châu (tr 285 – 286)” Chúng ta đọc Dịch từ lúc có Càn, Khôn, trải qua trung gian, nào Truân mà kinh luân; nào Mông mà giáo dục; nào Nhu mà sinh tụ; nào Tụng, nào Sư mà sắp đặt việc binh, việc hình; nào Súc, nào Lý mà chỉnh đốn việc kinh tế, việc lễ chế; hao tổn biết bao tâm huyết, chứa trữ biết bao thời giờ. Kể cả phần Khảm (hiểm) trải qua đến 6 lần :

1. Truân, Khảm thượng 2. Mông, Khảm hạ

3. Nhu, Khảm thượng 4. Tụng, Khảm hạ

5. Sư, Khảm hạ 6. Tì, Khảm thượng

Thoát khỏi 6 lần nguy hiểm rồi. Vậy sau, trong có chốn nuôi trữ là Tiểu súc, ngoài có chốn bằng tạ (nhờ cậy, ỷ vào) là Lý. Bây giờ mới làm nên Thái.

Thái vừa đến cuối cùng, tức khắc ra Bĩ (coi quẻ sau). Ghê gớm thật! Làm nên tốn vô số công phu mà làm hư chỉ trong chốc lát, vun dắp biết bao nền tảng mà đánh đổ chỉ trong nháy mắt.

Không chắc đó đã là thâm ý của người sắp đặt các quẻ, nhưng việc đời quả có như vậy: Kiến thiết lâu, suy rất chóng.

 

12 QUẺ THIÊN ĐỊA BĨ

Trên là Càn (trời), dưới là Khôn (đất)

Trong vũ trụ không có gì là thông hoài được, hết thông thì tới bế tắc, cùng, cho nên sau quẻ Thái tới quẻ Bĩ

Thoán từ

 

Bĩ chi phỉ nhân, bất lợi quân tử trinh, đại vãng tiểu lai

Dịch: Bĩ không phải đạo người (phi nhân nghĩa như phi nhân đạo), vì nó không lợi cho đạo chính của quân tử (Tượng của nó là) cái lớn (dương) đi mà cái nhỏ (âm) lại.

Giảng: Bĩ trái với Thái. Thái thì dương ở dưới thăng lên, giao với âm ở trên giáng xuống; bĩ thì dương ở trên, âm ở dưới đi xuống không giao nhau. Aâm dương không giao nhau thì bế tắc, ở đạo người như vậy mà ở vạn vật cũng như vậy. Thời đó không lợi với đạo chính của quân tử, vi dương đi nghĩa là đạo của quân tử tiêu lần, mà âm lại nghĩa là đạo của tiểu nhân lớn lên.

Đại tượng truyện – Khuyên: gặp thời bĩ thì người quân tử nên thu cái đức của mình lại (đừng hành động gì cả, riêng giữ cái đức của mình) để tránh tai nạn, đừng màng chút lợi danh nào cả. (Quân tử dĩ kiệm đức tị nạn, bất khả vinh dĩ lộc). Nghĩa là nên ở ẩn.

Gặp thời Truân, thời khó khăn, gian truân, người quân tử nên tập hợp nhau lại hành động; còn thời đã bĩ, đã bế tắc cùng cực rồi thì hành đông chỉ vô ích, cốt giữ cái đức và cái thân mình thôi.

Hào từ

 

Sơ lục: Bạt mao như, dĩ kỳ vị, trinh cát hanh

Dịch: hào 1 , âm: Nhổ rễ mao mà đuợc cả đám, hễ chính thì tốt hanh thông.

Giảng: Hào này rất tốt giống hào 1 quẻ Thái: cũng “bạt mao dĩ kỳ vị” vì quẻ Thái hào 1 cặp với hai hào trên, quẻ này cũng vậy, cũng có đồng chí, làm việc dễ có kết quả; chỉ khác quẻ Thái hào 1 là dương, quân tử, quẻ này hào 1 là âm, tiểu nhân; cho nên quẻ Thái khuyên cứ tiến lên (chinh) sẽ tốt; còn quẻ này thì khuyên phải “trinh” chính đáng (trinh – khác nhau ở hai chữ chinh và trinh) thì sẽ tốt và hanh thông.

Hào 1 quẻ Bĩ là tiểu nhân nhưng mới bước đầu, cái ác chưa rhiện rõ, lại ứng hợp với hào 4 ở trên là quân tử, cho nên còn có hy vọng cải hoá được. Đại tượng truyện bảo: nếu để tâm giúp nước (chí tại quân – quân là vua, là quốc gia) như hào 4 thì sẽ tốt. Như vậy là có ý khuyên tiểu nhân nên đứng vào phe quân tử.

 

Lục nhị: Bao thừa, tiểu nhân cát: đại nhân bĩ, danh

Dịch: Hào 2 , âm: Tiểu nhân chịu đựng và vâng thuận người quân tử thì tốt, đại nhân (có đức lớn) yên giữ tư cách trong cảnh bế tắc (khốn cùng) thì hanh thông.

Giảng: Hào này tuy là tiểu nhân, nhưng đắc trung đắc chính, chung quanh là tiểu nhân cả, mà ứng hợp với hào 5 quân tử ở trên, cho nên hào từ khuyên nó nên vâng thuận người quân tử thì tốt. Còn kẻ đại nhân được bọn tiểu nhân vâng thuận – vì chúng muốn mua danh – thì cũng đừng theo chúng, cứ giữ khí tiết của mình trong thời khốn cùng, như vậy sẽ hanh thông.

 

Lục tam: Bao tu

Dịch: hào 3, âm: Chúa chất sự gian tà, xấu hổ

Giảng: Hào này, không trung, không chính. Là kẻ đứng đầu bọn tiểu nhân (vì ở trên cùng nội quái khôn), cho nên rất xấu, đáng ghét

 

Cửu tứ: Hữu mệnh, vô cữu, trù li chỉ

Dịch: Hào 4 dương: Có mệnh trời (tức như thời vận đã tới) thì không lỗi mà bạn của mình, cũng nhờ cậy mình mà được hưởng phúc

Giảng: Hào này ở quá nửa quẻ Bĩ, có mòi ắùp hết bĩ rồi, cho nên nói là thời vận đã tới; nó là dương ở trong ngoại quái Càn, chính là người quân tử thưc hiện được chí của mình. Bạn của nó – tức hai hào 5, 6 cùng là dương cả – cũng sẽ được hưởng phúc

 

Cửu ngũ: Hữu bĩ, đại nhân cát

 

Kỳ vong, kỳ vong, hệ vu bao tang

Dịch: hào 5, dương: Làm cho hết bĩ, đó là đạo tốt của bậc đại nhân (Tuy nhiên, phải biết lo). Có thể mất đấy, có thẩ mất đấy (đừng quên điều đó thì mới vững như) buộc vào một cụm dâu (cây dâu nhiều rễ, ân sâu dưới đất, rất khó nhổ).

Giảng: hào này có đức dương cương trung chính, lại ở vào ngôi tôn, trong thời Bĩ sắp hết, cho nên lời đoán là tốt. Nhưng vẫn phải thận trọng, đừng sơ suất.

Theo Hệ từ hạ chương V thì Khổng tử đọc tới hào này, bàn thêm rằng” “Người quân tử khi yên ổn thì không quên rằng sẽ có thể nguy; khi vững thì không quên rằng có thể mất, khi trị thì không quên rằng sẽ có thể loạn. Nhờ vậy mà thân an nước nhà giữ vững đuợc”.

 

Thượng cửu: Khuynh bĩ, tiên bĩ, hận hỉ

Dịch: Hào trên cùng, dương: đánh đổ được cái bĩ; trước còn bĩ , sau thì mừng.

Giảng : đây là thời cuối cùng của Bĩ, mà bĩ cực thì thái lai; người quân tử có tài sẽ dắt cả bạn bè (trỏ hào 4 và 5) mà đánh đổ được Bĩ. Nhưng mới đầu còn phải lo lắng (tiên bĩ) sau mới mừng là bước lên được cảnh Thái rồi.

Chúng ta để ý: Quẻ Thái, mới đến hào 3, còn thịnh cực mà Dịch đã khuyên phải giữ được chính đáng trong cảnh gian nan (gian trinh); còn quẻ Bĩ, khi mới tới hào 4, mới có, mòi sắp hết Bĩ mà Dịch đã khuyên là tới thời đã tới, người quân tử nên thực hiện chí của mình đi. Nghĩa là luôn luôn phải sẵn sàng để nắm ngay lấy cơ hội.

 

13 QUẺ THIÊN HỎA ĐỒNG NHÂN

Trên là Càn (trời), dưới là Li (lửa)

Không thể bế tắc, cách tuyệt nhau mãi được, tất phải có lúc giao thông hoà hợp với nhau; cho nên sau quẻ Bĩ tới quẻ Đồng Nhân.

Đồng nhân là cùng chung với người, đồng tâm với người.

Thoán từ:

 

Đồng nhân vu dã, hanh

 

lợi thiệp đại xuyên. Lợi quân tử trinh

Dịch: Cùng với người ở cánh đồng (mênh mông) thì hanh thông. (Gian hiểm như) lội qua sông lớn, cũng lợi. Quẻ này lợi cho người quân tử trung chính.

Giảng: Li ở dưới là lửa, sáng , văn minh, Càn ở trên là Trời. Quẻ này có tượng lửa bốc lên cao tới trời, cùng soi khắp thế giới (cánh đồng mênh mông có nghĩa đó). Cho nên tốt. Dù có hiểm trở gì, cũng vượt được (Phan Bội Châu bảo đó “chính là cảnh tượng đại đồng vui vẻ”). Muốn vậy phải có đức trung chính của người quân tử

Thoán truyện cùng hào 2 ở nội quái Li, hào âm độc nhất, quan trọng nhất trong 6 hào mà giảng thêm:

Hào đó âm nhu đắc vị (tức là chính) đắc trung, lại ứng hợp với hào 5 dương cương cũng đắc vị đắc trung trong ngoại quái Càn, thế là có hiện tượng nội ngoại tương đồng, nên gọi là Đồng Nhân. Văn minh (Li) ở phía trong, cương kiện (Càn) tức dụng ở ngoài; mà được cả trung lẫn chính, ứng hợp với nhau; đó là tượng người quân tử thông suốt được tâm trí của thiên hạ.

Đại tượng truyện bàn thêm: Người quân tử muốn thực hiện được cảnh tượng mọi vật cùng sống chung với nhau thì phải phân biệt từng loại của chủng tộc, xét kỹ mỗi sự vật (quân tử dĩ loại tộc, biện vật); hễ cùng loại thì đặt chung với nhau và cho mỗi vật được phát triển sở năng, thoả được sở nguyện, có vậy thì tuy bất đồng mà hoá đồng được.

Hào từ:

 

Sơ cửu: đồng nhân vu môn, vô cữu

Dịch: Hào 1, dương: Ra khỏi cửa để cùng chung với người thì không có lỗi.

Giảng: Hào dương này, như người quân tử mới bất đầu ra đời, đã muốn “đồng” (cùng chung) với người khác thì có lỗi, có gì đáng trách đâu?

 

Lục nhị: đồng nhân vu tôn, lận

Dịch: hào 2, âm: (Chỉ) chung hợp với người trong họ, trong đảng phái, xấu hổ

Giảng: Hào này tuy đắc trung, đắc chính, nhưng ở thời Đồng nhân, nên cùng chung với mọi người, mà lại chỉ ứng hợp riêng với hào 5 ở trên, như chỉ cùng chung với người trong họ, trong đảng phái của mình thôi, thế là hẹp hòi, đáng xấu hổ

 

Cửu tam: Phục nhung vu măng,

 

thăng kì cao lăng, tam tuế bất hưng

Dịch: Hào 3, dương: núp quân ở rừng rậm (mà thập thò) lên gò cao, ba năm chẳng hưng vượng được.

Giảng: Hào này muốn hợp với hào 2 (âm) ở dưới, nhưng nó quá cương (dương ở dương vị), lại bất đắc trung, như một kẻ cường bạo; mà 2 đã ứng hợp với 5 ở trên, 3 sợ 5 mạnh nên không dám công kích 2, chỉ núp trong rừng, rình trộm; rồi thập thò lên đồi cao mà ngó (3 ở trên cùng nội quái, nên nói vậy); như vậy ba năm cũng không tiến (hưng lên) được.

 

Cửu tứ: Thừa kỳ dung, phất khắc công, cát

Dịch: Hào 4, dương: Cưỡi lên tường đất rồi mà không dám đánh, thế thì tốt.

Giảng: Hào này cũng là dương cương, bất trung, bất chính, cũng muốn hợp với 2, lăng áp ,mà cướp 2 (hào 3 ở giữa 2 và 4 cũng như bức tường ngăn cách 2 và 4, 4 ở trên 3 như đã cưỡi lên bức tường đó); nhưng tuy cương mà ở địa vị âm, còn có chút nhu, nên nghĩ lại, không thể lăng áp được, như vậy không nên, cho nên Hào từ bảo “thế thì tốt”.

Tiểu tượng truyện khen là biết phản tắc tức biết trở lại phép tắc.

 

Cửu ngũ: Đồng nhân, tiên hào đào nhi

 

hậu tiếu, đại sư khắc tương ngộ

Dịch: Hào 5, dương: cùng với người, trước thì kêu rêu, sau thì cười; phải dùng đại quân đánh rồi mới gặp nhau.

Giảng: Hào này dương cương trung chính, ứng hợp với hào 2, thật là đồng tâm đồng đức, tốt. Nhưng giữa 5 và 2, còn có hai hào 3 và 4 ngăn cản, dèm pha, phá rối, nên mới đầu phải kêu rêu, phải dùng đại quân dẹp 3 và 4 rồi 2 và 5 mới gặp nhau mà vui cười. Công việc hoà đồng nào mới đầu cũng bị nhiều kẻ ngăn cản như vậy, không phải dễ dàng thực hiện ngay được, dù là hợp với công lý, với hạnh phúc so áđông.

 

Thượng cửu: Đồng nhân vu giao, vô hối

Dịch: Hào trên cùng , dương; Cùng với người ở cánh đồng ngoài đô thành, không hối hận.

Giảng: “Giao” là cánh đồng ngoài đô thành, không rộng bằng “dã” (đồng nội nơi nhà quê) Hào này tuy ở cuối quẻ Đồng nhân, không có hào nào ứng hợp với nó, cho nên chí chưa được thi hành như mình mong muốn, mới chỉ như cùng với người ở cánh đồng ngoài đô thành thôi, chưa ở giữa quãng đồng nội được.

*

Đọc quẻ này chúng ta rút ra được hai lời khuyên:

- Muốn hào đồng thì đừng có tinh thần đảng phái; phải tôn trọng đặc tính của mỗi hạng người, khả năng cùng nhu cầu của mỗi người.

- Công việc hoà đồng mọi người tuy rất chính đáng, mang lại hạnh phúc cho dân chúng nhưng cũng gian nan, bị nhiều kẻ phá.

 

14 QUẺ HỎA THIÊN ĐẠI HỮU

Trên trời Li (lửa), dưới là Càn (trời)

Đã cộng đồng với mọi người thì mọi người về với mình. Mà sở hữu của mình cũng lớn, cho nên sau quẻ Đồng nhân, tới quẻ Đại hữu (có lớn)

Thoán từ:

 

Đại hữu: Nguyên hanh

Dịch: Có lớn thì rất hanh thông.

Giảng: Li ở trên Càn là lửa ở trên trời, chiếu sáng mọi vật như vậy là “có lớn’ Li lại có nghĩa là văm minh, Càn là cương kiện, gồm cả văn minh và cương kiện cho nên rất hanh thông.

Thoán truyện: Còn mộtcách giảng nữa: quẻ này chỉ có một hào âm, nó rất giống lĩnh quần dương, 5 hào dương đều theo nó, có nghĩa là mọi người về với nó, mà nó được “có lớn”. Sở dĩ nó thống lĩnh được vì nó ở ngôi tôn mà lại đắc trung. Nó ứng với hào 2, dương ở giữa quẻ Càn, như vậy nó vừa văn minh vừa cương kiện, ứng với trời (Càn) mà hành động với thời.

Đại tượng truyện khuyên: Người quân tử trong quẻ này phải ngăn đón ngay điều dữ khi nó chưa phát hiện , và biểu dương điều tốt khi nó còn mập mờ để thuận mệnh tốt của trời (át ác dương thiện, thuận thiên hưu mệnh: chữ hưu ở đây là tốt).

Hào từ:

 

Sơ cửu: vô giao hại, phỉ cữu; nan tắc vô cữu

Dịch: Đại hữu là có lớn. Hào 1 như con một nhà giàu sang còn trẻ, chưa làm gì tai hại thì chưa có tội, nhưng vì là con nhà giàu ít người ưa, nếu kiêu căng xa xỉ sẽ gây oán ghét, cho nên Hào từ khyên sống như trong cảnh gian nan thì mới khỏi tội.

 

Cửu nhị: Đại xa dĩ tái, hữu du vãng, vô cữu

Dịch: Hào 2, dương: Xe lớn chở nặng, đi chốn nào (ý nói làm gì) cũng được, không có lỗi.

Giảng: Hào này tốt nhất trong quẻ: dương cương mà đắc trung, vừa có tài vừa khiêm tốn, được hào 5, âm ở trên ứng hợp, như được vua hết sức tin dùng sẽ thành công, cho nên ví với cỗ xe lớn chở nặng đi đường xa, đâu cũng tới được.

 

Cửu tam: Công dụng hưởng vu thiên tử,

 

tiểu nhân phát khắc

Dịch: Hào 3, dương: như bậc công(hầu) mở tiệc mời thiên tử, hạng tiểu nhân không đương nổi việc đó

Giảng: thời xưa chữ đọc là hanh (nghĩa là hanh thông) mà cũng đọc là hưởng (nghĩa là hưởng dụng, dâng, yến tiệc, lễ lớn) (1) Chu Hi hiểu là triều hiến; R.Willem hiểu là đem đất đai của cải dâng thiên tử, hoặc cho dân chúng.

Chúng tôi theo Phan Bội Châu mà dịch như trên. Hào 3 này dương cương đắc chính, đứng trên cùng nội quái, cho nên ví với một bậc công; ở vào thời Đại hữu tất có nhiều đất đai, nhân dân; mên bậc thiên tử cũng nể, tới dự tiệc do vị công đó đãi. Nhưng phải là người quân tử, có đức hạnh, không kiêu, mới làm như vậy được; còn hàng tiểu nhân, thấy thiên tử tới nhà mình càng kiêu căng, xa xỉ thì không đương nổi danh dự đó, mà chỉ hại thôi (tiểu nhân hại đã – lời Tiểu tượng truyện)

 

Cửu tứ: Phi kỳ bành, vô cữu

Dịch: Hào 4, dương: Đừng làm ra vẻ thịnh vượng, Phan Bội Châu dẫn đầu câu” Hành nhân bành bàn” trong Kinh Thi mà biểu là rầm rộ.chúng tôi châm chước hai nghĩa đó mà dịch như trên.

Hào này ở địa vị cao, gần hào 5, mà bất trung, bất chính, e có hoạ tới nơi, nên Hào từ khuyên phải khiêm tốn, tiết kiệm. Tiểu tượng truyện cũng khuyên phải phân biệt thị phi họa phúc cho rành thì mới khỏi lỗi .

 

Lục ngũ: Quyết phu giao như, uy như, cát

Dịch: Hào 5, âm: Lấy đức tín, chí thành mà giao thiệp, và phải có uy thì tốt.

Giảng: hào này ở vị chí tôn, được cả 5 hào dương theo, nên phải đem đức tin, lòng chí thành mà đối đãi với người dưới. Nhưng vì là âm, nên ngại rằng quá nhu, nên Hào từ khuyên phải có chút uy mới được.

Tiểu tượng truyện cơ hồ biểu khác, bảo phải dùng uy vũ,đừng khinh dị mà phải phòng bị đạo tặc (uy như chi cát, dị nhi vô bị dã)

 

Thượng cửu: Tư thiên hựu cài, cát, vô bất lợi

Dịch: Hào trên cùng, dương: Tự trời giúp cho, tốt, không có gì mà chẳng lợi

Giảng: Ở thời Đại hữu, thịnh trị, hào dương cương này ở trên cùng mà chịu hạ mình theo hào 5, chỉ vì 5 có đức thành tín; như vậy là không kiêu, tuy thịnh mà không đầy tràn, nên được trời giúp cho, hoá tốt, chứ lẽ thường hào cuối cùng. Đại hữu đã đến màn cuối, khó mà tốt được.

Khổng tử đọc tới hào này bảo: “Trời sở dĩ giúp cho là thuện với đạo trời; người sở dĩ giúp cho là vì có lòng thành tín”. Ông muốn nói hào 5 được các gào khác giúp vì thuận với đạo trời trọng người hiền (hào 5), không kiêu.

Quẻ này khuyên chúng ta sống trong cảnh giàu có, nên khiêm, kiệm; giao thiệp với người, nên chí thành

Phan Bội Châu nhận xét rằng trong 64 quẻ, không quẻ nào tốt như quẻ này: Hào 1, 2, 3 đều không có lỗi, hào 4 được hanh thông, hào 5 tốt, hào 6 đã tốt hơn nữa, “không có gì mà chẳng lợi”. Ngay đến quẻ Càn, quẻ Thái hào cuối cùng cũng xấu, kém quẻ này. Đại hữu chính là thời thịnh trị sau thời đại đồng.

 

15 QUẺ ĐỊA SƠN KHIÊM

Trên là Khôn (đất), dưới là Cấn (núi)

Đại hữu là thời rất thịnh, không nên để cho quá đầy, mà nên nhún nhường, nên Khiêm.

Thoán từ

 

Khiêm: Hanh, quân tử hữu chung

Dịch: Nhún nhường: hanh thông, người quân tử giữ được trọn vẹn tới cuối.

Giảng: Trên là đất, dưới là núi. Núi cao đất thấp; núi chịu ở dưới đất là cái tượng nhún nhường, khiêm hạ. Vì vậy mà được hanh thông.

Quẻ này chỉ mỗi một hào dương, dùng nó làm chủ quẻ.

Thoán truyện bàn thêm: Khiêm là là đạo của trời, đất và người.

Trời có đức khiêm vì ở trên đi xuống chỗ thấp mà sáng tỏ; đất có đức khiêm vì chịu ờ dưới mà đi lên. Đạo trời, cái gì đầy thì làm cho khuyết đi, cái gì thấp kém (khiêm) thì bù đắp cho (Thiên đạo khuy doanh nhi ích khiêm). Đạo đất đạo quỹ thần cũng vậy. Còn đạo người thì ghét kẻ đầy, tức sự jiêu căng thỏa mãn, ma thich kẻ khiêm tốn (Nhân đạo ố doanh nhi hiếu khiêm). Hễ khiêm thì ở địa vị cao mà đạo càng sáng, ở địa vị thấp mà chẳng ai vượt được mình.

Đại tượng truyện khuyên người quân tử nên bớt chốn nhiều bù chốn ít, để cho sự vật cân xứng, quân bình (Biều đa ích quả, xứng vật bình thí).

Hào từ

 

Sơ lục: Khiêm quân tử, dụng thiệp đại xuyên, cát.

Dịch: Hào 1, âm – Nhún nhường, nhún nhường, người quân tử dùng đức ấy để qua sông lớn thì tốt.

Giảng: Hào này âm nhu mà lại ở dưới cùng, thật là khiêm hạ, dầu gặp hoàn cảnh hiểm nguy nào cũng vượt được.

Tiểu tượng truyện khuyên người quân tử trau dồi tư cách của mình bằng đức khiêm hạ. (khiêm khiêm quân tử, ti dĩ tự mục).

 

Lục nhị: Minh khiêm, trinh cát.

Dịch: hào , âm: tiếng tăm lừng lẫy về đức khiêm; nếu chính đáng thì tốt.

Giảng: Hào này nhu thuận, đắc trung, đắc chính, rất tốt, cho nên bảo là tiếng tăm lừng lẫy về đức khiêm. Nhưng ngại tiếng tăm lừng lẫy thì dễ ham danh, mà hoá ra quá khiêm (đến mức giả nhún nhường hoặc nịnh bợ), nên hào từ khuyên phải giữ đức trung, chính (trinh) của hào 2 thì mới tốt .

 

Cửu tam: Lao khiêm, quân tử hữu chung, cát.

Dịch: Hào 3, dương: Khó nhọc (có công lao) mà nhún nhường, người quân tử giữ được trọn vẹn, tốt.

Giảng: Hào này có đức dương cương, làm chủ cả quẻ, năm hào âm đều trông cậy vào, như người có địa vị (ở trên cùng nội quái), có tài năng (hào dương) mà khiêm tốn (vì ở trong quẻ Khiêm), không khoe công, nên càng được mọi người phục, mà giữ được địa vị, đức độ tới cùng.

Theo Hệ từ thượng truyện chương VIII, Khổng tử đọc hào này, giảng thêm: “Khó nhọc mà không khoe khoang, có công với đời mà chẳng nhận là ân đức, đức như vậy là cực dày”

 

Lục tứ: Vô bất lợi, huy khiêm

Dịch: Hào 4, âm: Phát huy sự nhún nhường thì không gì là không lợi.

Giảng: Hào này nhu thuận mà đắc chính, tốt đấy, nhưng vì ở trên hào 3 là người có công lao, mà lại ở gần hào 5, là vua, nên càng phải phát huy thêm đức khiêm, mới tránh được mọi khó khăn mà không gì là không lợi.

 

Lục ngũ: Bất phú dĩ kỳ lân, lợi dụng xâm phạt, vô bất lợi

Dịch: Hào 5, âm: Chẳng cần giàu (có thế lực) mà thâu phục được láng giềng (được nhiều người theo); nhưng phải có chút uy, chinh phạt kẻ nào chưa phục mình thì mới không gì là không lợi.

Giảng: Hào này âm nhu, đắ trung, ở địa vị chí tôn, nên tự nhiên thâu phục được nhiều người, nhưng nếu nhu quá, thiếu uy thì không phải là tư vách một ông vua, nên Hào từ khuyên nên dùng vô đối với kẻ nào chưa phục mình. Hào này có thể dùng uy được vì ở vị dương (lẻ).

 

Thượng lục: Minh khiêm, lợi dụng hành sư, chinh ấp quốc.

Dịch: Hào trên cùng âm: Tiếng tăm lừng lẫy về đức khiêm, được nhiều người theo có thể có lợi dụng điều đó mà ra quân, nhưng cũng chỉ trị được những kẻ trong ấp mình không phục mình thôi.

Giảng: hào này thể nhu, vị nhu, ở vào thời cuối cùng quẻ Khiêm, cho nên Khiêm nhu cùng cực, tiếng tăm lừng lẫy, nhiều người theo đấy; nhân đó mà có thể ra quân chinh phạt những k

Up
Down

Copyright © 2007 TreToday.net