PHẦN II

KINH VÀ TRUYỆN

LỜI NÓI ĐẦU

 

Trong phần II này tôi sẽ chép chữ Hán, phiên âm và dịch trong phần Kinh gồm Thoán từ lời đoán mỗi quẻ của Văn Vương; và Hào từ, tức lời đoán mỗi hào của Chu Công.

Thóan Từ và Hào Từ rất gọn, chỉ ghi lại ít chữ, như một thứ TP 181 cho người đọc dễ nhớ thôi (chẳng hạn Thoán Từ quẻ Trung Phu số 61(1). Hào từ hào 4 quẻ Bí số 22(2); vì vậy rất tối nghĩa, phải có lời giảng mới hiểu được, và dưới mỗi lời dịch, tôi sẽ thêm lời giảng.

Để giảng Thoán Từ, dĩ nhiên tôi phải căn cứ trước hết vào Thoán truyện và Đại tượng truyện; để giảng Hào từ, tôi căn cứ trước hết vào Tiểu tượng truuyện; Tôi sẽ không dịch trọn Thoán truyện và Tượng truyện (Đại và Tiểu) mà chỉ tóm tắt ý nghĩa và trích dẫn một số câu quan trọng cho xen vào lời giảng.

Riêng về hai quẻ Càn và Khôn, tôi trích dẫn thêm Văn ngôn truyện, và trong một số quẻ khác, tôi cũng lác đác dùng lời bình luận trong Hệ từ truyện mà tôi sẽ dịch trọn và đặt sau phần kinh. Tôi lại tham khảo thêm những chú giải của Chu Hi, lời giảng của Phan Bội Châu, đôi khi của James Legge, của Richard Wilhem, của Cao Hanh, Nghiêm Linh Phong và vài nhà khác nữa.

Đầu mỗi quẻ tôi dẫn một câu trong Tự quái truyện cho biết vì lý do gì cổ nhân sắp quẻ đó tiếp theo quẻ trước, nói cách khác, là cho biết sự liên lạc giữa ý quẻ đó và quẻ trước.

Tóm lại, như vậy là trong bảy truyện: Thoán truyện, Tượng truyện, Hệ từ truyện, Văn ngôn truyện, Tự quái truyện, Thuyết quái truyện, Tạp quái truyện, tôi dùng năm truyện đàu để giảng phần kinh, cho xen vào phần kinh, nh7ng chỉ dịch trọn Hệ từ truyện thôi; còn hai truyện Thuyết quái và Tạp quái thì không dùng tới.

(1) Thoán từ quẻ Trung phu “Đồn ngư cát, lợi thiệp đại xuyên”: dịch nghĩa từng chữ: “Heo, cá, tốt lôi qua sông lớn”; phải hiểu là: “Lòng chí thành đó mà ứng phó với những gian hiểmnhư vượt qua sông lớn thì thành công”.

(2) Hào từ hào 4 quẻ Bí: “Bí như, bà như, bạch mã, hàn như, phi khẩu, hôn cầu”, dịch nghĩa từng chữ: “Trang sức, trằng toát, ngựa trắng chạy mau, không phải giặc, kết hôn”; phải hiểu là: “Muốn trang sức cho nhau, nhưng không được, chỉ thấy trắng toát. Hào 4 cưỡi ngựa trắng mà chạy như bay, đuổi kịp hào 1, rốt cuộc cưới nhau được, vì Hào 3 ở giữa ngăn cách 1 và 4 không phải là kẻ cướp, không phải là người xấu. Ý nói bị cản trở một chút nhưng sau sẽ tốt.

 

Chủ trương của tôi giống chủ trương của cụ Phan Bội Châu, chú trọng về ý nghĩa triết lý, nhất là về nhân sinh quan, mà coi nhẹ phần bói toán, phần huyền bí. Như vậy là phiến diện, không hợp với bản ý của những người đầu tiên đặt ra kinh Dịch, nhưng hợp với tư tưởng của Dịch học phái, tức của một số học giả chịu ảnh hưởng của Nho Lão ở thời Chiến Quốc và đã soạn Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn truyện một phần Hệ từ truyện làm cho Kinh Dịch thành một tác phẩm triết lý quan trọng ngang với các kinh khác thời Tiên Tân; vì nếu nó chỉ là một sách bói như hồi đầu thì dân tộc Trung Hoa tất không gọi nó là một kinh và coi nó là một môn học trong các kỳ thi cho mãi tới cuối thế kỷ trước.

Tôi không có tham vọng nghiên cứu Kinh Dịch, chỉ tìm hiểu được tới đâu ráng chép lại tới đấy một cách gọn và sáng để gíup các bạn không biết chữ Hán mà muốn đọc Kinh Dịch.

Bản tôi tham khảo nhiều nhất là bản của cụ Phan Bội Châu (Khai Trí – 1969) mà tôi cho là bản giảng kỹ nhất từ trước tới nay. Chỉ tiếc cụ có lối giảng của một thầy đồ trước một nhóm môn sinh có vốn Hán học kha khá rồi, cho nên hơi rườm rà và nhiều bạn trẻ ngày nay không hiểu được hết, nhất là bản của nhà Khai Trí để sót nhiều lỗi in quá, mà không đính chính nên càng khó hiểu. Phần dịch này của tôi có thể nói là chỉ diễn lại phần giảng của Cụ cho gọn dễ hiểu, dễ nhớ và thêm vài ý kiến của các nhà khác, thế thôi.

 

64 QUẺ

DỊCH VÀ GIẢNG

 

Số của mỗi quẻ trong phần dịch này không phải là số trong phương vị 64 của Phục Hi

 

KINH THƯỢNG

(Gồm 30 quẻ đầu)

 

I. QUẺ THUẦN CÀN

- Nội quái, ngoại quái đều là Càn.

 

Thoán từ:

 

Càn: Nguyên, hanh, lợi, trinh

Dịch: Càn (có bốn đức – đặc tính): đầu tiên và lớn, hanh thông, thích đáng, chính và bền.

Giảng: Văn Vương cho rằng bói được quẻ này thì tốt hanh thông, có lợi và giữ vững được cho tới lúc cuối cùng.

Về sau, tác giả Thoán truyện (tương truyền là Khổng tử nhưng không chắc) cho quẻ này một ý ngghĩa về vũ trụ. Càn gồm sáu hào đều là dương cả, có nghĩa rất cươgn kiện, tượng trưng trời.

Trời có đức “nguyên” vi là nguồn gốc của vạn vãt; có đức “hanh” vì làm ra mây mưa để cho vạn vật sinh trưởng đến vô cùng, có đức “lợi” và “trinh” vì biến hóa, khiến cho vật gì giữ được bẩm tính được nguyên khí thái hòa (cực hoà).

Bậc thánh nhân đứng đầu muôn vật, theo đạo Càn thì thiên hạ bình an vô sự.

Tác gỉa Văn ngôn truyện cho quẻ này thêm một ý nghĩa nữa về nhân sinh, đạo đức. Càn tượng trưng người quân tử. Người quân tử có bốn đức:

Nhân, đức lớn nhất, góc của lònng người

Lễ, là hợp với đạo lý, hợp với đạo lý thì hanh thônng, cho nên lễ tức là như đức “hanh” của trời.

Nghĩa, đức này làm cho mọi ngừơi được vui vẽ sung sướng, tứ như đức “lợi” của trời.

Trí, là sáng suốt, biết rõ thị phi, có biết thị phi mới làm được mọi việc cho nên nó là đức cốt cán, cũng như đức “trinh” chính và bền - của trời.

Nguyên, hanh, lợi, trinh mà giảng thành nhàn, lễ, nggghĩa, trí (bốn đức chính của đạo Nho) thì rõ là chịu ảnh hưởng nặng của Nho gia mà ý nghĩa và công dụng của Dịch đã thay đổi khá nhiều rồi.

Trở lên trên là cách hiểu của tiên Nho, các nhà Nho chính thống. Còn vài cách hiểu “mới mẻ” hơn của một số học giả gần đây, như Phùng Hữu Lan, Tào Thăng, Cao Hanh mà ở Phần I, Chương IV, chúng tôi đã ghi lại rồi.

Hào từ

Từ đây trở xuống là Hào từ, lời Chu Công đoán về mỗi hào.

 

Sơ cửu: Tiềm long vật dụng

Dịch: Hào 1 dương: Rồng còn ẩn nấu, chưa (đem tài ra) dùng được.

Giảng: Người Trung Hoa cho con rồng là thần vật, rất biến hoá, lúc ẩn lúc hiện, mà lại thuộc vè loài dương, cho nên Chu Công dùng nó để cho ta dễ thấy ý nghĩa các hào – đều là dương cả – trong quẻ Càn.

Hào 1, ở dưới thấp nhất, cho nên ví nó với con rồng còn nấp ở vực sâu, chưa thể làm mây biến hoá được, còn phải đợi thời. Ý nghĩa rất rõ, Tiểu tương truyện không giảng gì thêm. Còn Văn ngôn truyện thì bàn rộng ra về cách xử sự của bậc thánh nhân người quân tử: chưa gặp thời thì nên tu đức, luyện tài, không vì thế tục mà d0ổi chí, không cầu danh, ở ẩn, không ai biết mình cũng không buồn, không gì lay chuyển được chí của mình.

 

Cửu nhị: Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân

Dịch: Hào 2, dương: Rồng đã hiện ở cánh đồng, ra mắt đại nhân thì lợi.

Giảng: Hào 2 là dương, ờ giữa nội quái là đắc trung, như vậy là gặp thời, tài đức giúp ích cho đời được: lại thêm hào ứng với nó là 5, cũng là dương, cũng đắc trung (vì ở giữa ngoại quái) cho nên hào 2 có thể ví với con rồnng đã rời vực mà hiện lên cánh đồng; mà cũng như người có tài đức gặp thời, nên kiếm người đồng tâm đồng đức với mình mà làm việc ( lợi kiến đại nhân).

Văn ngôn: khuuyên người có tài đức gặp thời này nên giữ đức tin, đức thận trọng trong ngôn, hành, tránh tà bậy, giữ lòng thành, giúp đời mà không khoe công, như vậy là giữ được đức trung chính của hào 2.

 

Cửu tam: Quân tử chung nhật càn càn,

 

tịch dịch nhược Lệ, vô cửu

Dịch: Hào 3, dương: Người quân tử suốt ngày hăng hái tự cương, đến tối vẫn còn thận trọng như lo sợ. Nguy hiểm. Nhưng không tội lỗi.

Giảng: Hào 3 là dương lại ở vị ngôi dương, như vậy là rất dương, mà không đắc trung. Hơn nữa, nó ở trên cùng nội quái mà chưa tiến lên ngoại quái, nghĩa là ở một chỗ chông chênh, rất khó xử, cho nên bảo là nguy hiểm (lệ). Nhưng nó vẫn là quân tử, có đức tự cường không ngừng, rất thận trọng, lúc nào cũng như lo sợ, cho nên tuy gặp thời mà không đến nỗi tội lỗi.

Văn ngônbàn thêm: người quân tử giữ tín để tiến đức, sửa lời nói (lập ngôn) vững lòng thành để lập sự nghiệp tới cùng, ở địa vị cao mà khôn kiêu, địa vị thấp mà không lo (coi toàn văn ở phần I, chương II…). Lời khuyên đó cũng tựa như lời khuyên ở haò 2.

 

Cửu tứ: Hoặc dược, tại uyên, vô cứu.

Dịch: hào 4, dương: Như con rồng có khi bay nhảy, có khi nằm trong vực (biết tùy thời cơ như thế thì không lầm lỗi).

(Có người dịch là như con rồng có khi bay nhảy tr6n vực sâu, không lầm lỗi).

Gỉang: Hào 4 là dương ở vị (ngôi) âm, như vậy là bất chính và bất trung; nó lại cũng như hào 3 ở địa vị chông chênh, mới rời nội quái tiến lên ngọai quái, tiến chưa chắc đã tốt mà thoái thì dở dang. Cho nên phải thận trọng xem xét thời cơ, nên tiến thì tiến (như con rồng bay nhảy) nếu không thì chờ thời (con rồng nằm trong vực), cho nên Chu Công dùng chữ “hoặc”: không nhất định.

Tuy bất chính, bất trung như có chất cương kiện (hào dương trong quẻ Càn) nên cũng như hào 3 là bậc quân tử, biết giữ tư cách, bíêt tùy thời, và rốt cuộc không có lỗi.

Hào này chỉ khác hào 3 ở chỗ nó có thể tiến được, còn hào 3 chưa tiến được.

Văn ngôn không giảng gì khác, chỉ khuyên người quân tử tiến đức tu nghiệp, chuẩn bị cho kịp thhời để có lúc ra giúp đời.

 

Cửu ngũ: Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân

Dịch: Hào 5, dương: Rồng bay trên trời, ra mắt kẻ đại nhân thì lợi.

Giảng: Hào 5 là dương ở vị (ngôi) dương cao nấht trong quẻ lại đắc trung (ở giữa ngạoi quái), như vậy là có đủ điều tốt, vừa cao quý vừa chính trung. Nó lại đươc hào 2 ở dưới ứng với nó, mà hào 2 cũng cương kiện, đắc trung như nó. Nó là hào tốt nhất trong quẻ, cho nên ví nó với con rồnng trên trời, và ngôi của nó là ngôi chí tôn (ngôi vua).

Chữ đại nhân (nggười có tài đức) trỏ cả hào 5 lẫn hào 2: hao đại nhân ở hai hào đó nên gặp nhau, hợp lực với nhau thì có lợi.

Văn ngôn giảng thêm rất rõ và hay về bốn chữ lợi kiến đại nhân: “’Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu; nước chảy xuống thấp, lửa bén tới chỗ khô; mây bay theo rồng, gió bay theo cọp thánh nhân xuất hiện mà vạn vật đều trông vào (…) Mọi vật đều theo loaiø của nó “(Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu; thủy lưu thấp, hỏa tựu tào, vân tòng long, phong tòng hổ, thánh nhân tác nhi vạn vật đổ (…) các tùy kỳ loại dã) .

 

Thựơng cửu: Kháng long hữu hối.

Dịch: Hào dương này ở trên cao của quẻ, cương kiện đến cùng rồi, như con rồng bay lên cao quá, không xuống được nữa, nếu vẫn còn hành động thì sẽ có điều đáng tiếc, vì lẽ thịnh quá thì tất suy, đầây thì không đựơc lâu, (doanh bất khả cửu).

Văn ngôn: gỉang thê: Hào 6 địa vị rất quý (vì ở tr6n cao hơn hết( nhưng không có ngôi, cao mà không có dân (vì hào 5 là vua mới có dân), các người hiền ở dưới mình mà không gíup đỡ mình (vì hào 3 tuy ứng với hào 6 nhưng lai ở nội quái, mà giữa hào 3 và hào 6 có hào 5 là vua làm chủ hào 3 rồi) cho nên hào 6 mà hoạt động thì tất có điều phải ăn năn. (Lời giảng trong Văn ngôn, tác gỉa Hệ Từ truyện dẫn lại trong thiên thượng, Chương VIII, Tiết 9).

Tóm lại thời của hào này là thời không nên hoạt động gì cả, sớm rút lui đi thì còn giữ được tư cách người quân tử.

 

Dụng cửu: Kiến quần long vô thủ cát

Dịch: (nghĩa từng chữ) Dùng hào dương: thấy bầy rồng không đầu, tốt.

Chú thích: Chu Hi giảng: Cặp quẻ này mà sáu hào (dương) đều biến (ra âm) cả, tức là cương mà biến ra nhu, thì tốt. Thánh nhân dùng cái tượng bầy rồng (sáu hào dương) mà không đầu (tức là nhu) để diễn ý đó.

J. Legge, R.Wilhem đều hiểu theo Chu Hi mà không giảng gì thêm. Duy Phan Bội Châu đưa thêm ý kiến riêng, đại ý bảo: “Dụng cửu” không phải là một hào, nhưng theo Hào từ của Chu Công thì cũng giả thiết là một hào. “Quần long vô thủ” là sáu hào dương đều biến cả. Con rồng hoạt động khác thường là cốt ở cái đầu. Sáu hào dương đã biến (ra âm) hết thì không còn hình tích hoạt động nữa, cho nên gọi là rồng không đầu.

Nhưng cụ cũng nhận rằng đó cũng chỉ là mặt chữ mà giải thíach nghĩa đen thôi, chứ cái “ý thâm điệu của thánh nâhn thì sâu xa huyền bí quá”. Nghĩa là lời kinh tối nghĩa quá, cụ không hiểu nỗi.

Cao hanh hiểu khác, bảo “bầy rồng không đầu, nghĩa là bầy rồng đã bay lên trời, đầu bị mây che, nên chỉ thấy mình và đuôi. Đó là cái tượng rồng cưỡi mây lên trời, tốt”.

Cách giảng đó dễ hiểu, nhưng hai chữ “dụng cửu” có nghĩa gì đây, phải là một “hào” mới không, thì ông không cho biết. Cứ theo cách ông giảng “dụng lục” là một hào , thì chắc ông cũng cho “dụng cửu” của quẻ Càn là một hào. Nếu vậy thì “hào” này ra sao? Có phải là cả sáu hào của quẻ đều từ dương biến ra âm, như Chu Higỉang không?

Tào Thăng gỉai nghĩa khác nữa: “Cửu” là hào dương biến; “dụng” là lợi dụng, “vô thủ” là không có đầu mối. Đạo Càn (quần long) vận hành, biến hoá kỳ diệu, vạn vật nhờ đó mà thành công, nhưng cái lý do nó không thể thấy được (vô thủ), hễ dùng nó hợp thời thì tốt.

Vậy cơ hồ Tào không cho “dụng cửu” là một hào, mà chỉ có nghĩa là cách dùng quẻ Ccàn.

Chu Tuấn Thanh trong “Lục thập quái kinh gỉai” – Cổ tịch xuất bản xã – đưa ra một cách giải nữa cho “Dụng cửu” là tóm lại nghĩa của sáu hào thuần dương, Thuần dương là cái đức của trời, là gốc của vạn vật, không có gì ở trước nó được, ở trước nó thì xấu, theo sau nó thì tốt. Đó là ý nghĩa của hai chữ “vô thủ”. Nghĩa này theo tôi, khó chấp nhận được.

Nghiêm Linh Phong trong “Chu Dịch tân luận” – Chính trung thư cục – dẫn nhiều thuyết nữa.

Thuyết của Vương an Thạch, Đô Khiết, cho câu: “Dụng cửu: Kiến quần long vô thủ, cát “không phải là một tiết riêng mà chỉ tiếp theo tíêt Thượng cửu”.

Thuyết của Ngô Nhân Kiệt, bảo các bản dịch thời cổ, cho đến đời Phi Trực nhà Hán không có hai chữ “Dụng cửu”, đời sau thêm vào v.v…

Tóm lại câu “Dụng cửu…” này, tới nay vẫn còn là một bí mật không ai hiểu rõ nghĩa, toàn là đoán phỏng. Nếu coi đó là một hào thứ bảy tức trường hợp cả 6 quẻ Càn biến một lần ra âm hết, thì trường hợp đó cả ức triệu lần chưa chắc đã xảy ra một (1), các sách bói, đoán số không khi nào dùng nó cả. Về triết lý, thì ý nghĩa của nó chẳng có gì đặc biệt, cũng là biết cương mà cũng biết nhu, hợp thời mới tốt.

 

PHỤ LỤC

Dưới đây chúng tôi trích dẫn vài cách giải hào 1 quẻ Càn của một học gỉa gần đây, để độc giả so sánh.

Chu Tấn Thanh (sách đã dẫn)

“Rồng có 81 cái vảy ! đủ chín lần chín, cho nên dùng nó để tượng trưng hào dương. Rồng tới tiết xuân phân thì lên trời, tiết thu phân thì nấp dưới vực. Hào dương ở vị trí 1, tức là tháng giêng theo nhà Chu, tháng tí. Khí dương lúc đó mới động ở suối vàng (hoàng thuyền), chưa manh nha, còn tiềm phục, như người có thánh đức ở giữa đám người ngu…cho nên chưa dùng được, tài đức chưa thi thố được”.

Tào Thăng (sách đã dẫn)

“Người thời cổ thấy con rồng khéo biến hoá, cho nó là thần kỳ, dùng nó để đại biểu năng lực. Nếu lấy chữ “long” (rồng) làm chữ “năng” (lực) mà giảng thì con rồng ở dưới vực không dùng đuợc, vì năng lực nó còn tiềm phục, chưa hiện, chưa sinh tác dụng được (…)

dùng cái phép của hào mà gỉang thì hào 1 ở dưới hào 2 chưa độ6ng thì hào 1 không thể động trứơc. Hào 1 biến động thì quẻ Càn này thành quẻ Cấu (trên là Thiên, dưới là Phong) thì cũng chỉ là mới gặp “ở âm”(?) mà thôi, cho nên bảo là rồng còn ẩn náu, chưa dùng được (Cấu có nghĩa là gặp).

Cao Hanh (sách đã dẫn) Tôi chỉ trích câu cuối:

“Con rồng còn ẩn ở dưới vực mà không hiện, có cái “tượng” tĩnh mà không động. Bói được quẻ này thì không nên thi hành.

Chúng tôi không biết các học giả Trung Hoa gần đây còn những cách giảng nào mới mẻ hơn không, chứ ba cách trên không kỹ gì hơn cách của người xưa, mà cũng chẳng phát huy thêm được gì.

2 QUẺ THUẦN KHÔN

Nội quái, ngoại quái đều là Khôn

Thoán từ

khôn: Nguyên, hanh, lợi, tẫn mã chi trinh. Quân tử hữu du vãng, tiên mè hậu đắc, chủ lợi. Tây nam đắc bằng, đông bắc táng bằng. An trinh, cát.

Dịch: Khôn có đức đầu tiên và lớn, hanh thông, thích đáng, đức chính và bền của con ngựa cái. Người quân tử có việc làm mà thủ xướng thì lầm, để người khác thủ xướng mà theo sau thì được, chí cốt lợi ích cho vạn vật. Đi về phía tây nam thì được bạn, về phía đông bắc thì mất bạn. An lòng giữ đức bền vững. tốt.

Giảng: Quẻ Càn gồm 6 hào dương, quẻ Khôn gồm 6 hào âm. Càn “tượng” (1) trời thì khôn “tượng” đất. Càn cương kiện thì Khôn nhu thuận. Càn tạo ra vạn vật ở vô hình, thuộc phần khí; nhưng phải nhờ Khôn vạn vật với mới hữu hình mới sinh trưởng, cho nên công của Khôn cũng lớn như công của Càn, chỉ khác Khôn phải ở sau Càn, tùy theo Càn, bổ túc cho Càn; cho nên các đức nguyên, hanh, lợi, Khôn có đủ như Càn; chỉ riêng về đức trinh (chính và bền) thì Khôn hơi khác: tuy chính và bền nhưng phải thuận. Văn Vương dùng con ngựa cái để “tượng” Khôn: ngựa là giống mạnh mà ngựa cái có tính thuận theo ngựa đực.

Cũng vì Khôn có đức thuận, cho nên khởi xứơng phải là Càn, Khôn chỉ tiếp tục công việc của Càn. Người quân tử nếu ở vào địa vị Khôn, phải tùy thuộc người trên thì làm việc cũng đừng nên khởi xướng để khỏi lầm lẫn, chờ người ta khhởi xướng rồi mới theo thì được việc, như vậy là có đức dày như đất, chở được muôn vật, lớn cũng không kém đức của trời (Càn): “Quân tử dĩ hậu đức tải vật”, đó là bài học rút ra từ quẻ Khôn, cũng như “Quân tử dĩ tự cường bất tức” là bài học rút ra từ quẻ Càn.

Chu Công còn khuyên đi về phía phía Tây Nam vì trên Hậu thiên bát quái Khôn ở phía Tây nam (có học giả hiểu là phía Tây và phía Nam) thì được bạn (hoặc được tiền bạc, vì chữ “bằng” có thể hiểu là bằng hữu, cũng có thể hiểu là bằng bối: bối là vỏ sò ngao xưa dùng làm tiền, 1 bằng là 2 hoặc 10 bối) nếu đi về phía Đông bắc thuộc dương thì mất bạn (hoặc tiền bạc).

Được quẻ này, nếu theo những lời khuyên đó mà an lòng, giữ đức bền vững thì tốt.

Câu “Quan tử hữu vãng, tiền mê hậu đắc” có người hiểu là:”Người quân tử có đi đâu thì trước lầm sau đúng”, mà không giảng tại sao lại như vậy. Hiểu như chúng tôi ở trên thì có lý hơn, làm rõ cái đạo “thuận lòng thì tốt” của Khôn. – Chữ “du” ở trong kinh dịch thường dùng như chữ “Sở”

Tác giả Văn Ngôn không giảng gì thêm chỉ tóm tắt lại: Đạo Khôn là thuận theo trời mà tiến hành không ngừng.

Hào từ

 

Sơ lục: Ly sương, kiên băng chíù

Dịch: Hào 1, âm: Đạp lên sươngthì biết băng dày sắp đến.

Giảng: Đây là hào âm đầu tiên trong quẻ. Âm thì lạnh, nên Chu Công ví với sương lạnh mới kết lại thì thành sương, rồi lần lần, lạnh hơn, nước sẽ đông lại thành băng. Hào này có hàm cái ý phải thận trọng từ bước đầu. Tiều tượng truyện không giảng thêm, còn Văn ngôn truyện thì khuyên ta:

“Nhà nào tích lũy điều lành thì tất có thừa phúc (để đến đời sau); nhà nào tích lũy điều chẳng lành thì tất có thừa tai vạ (để đến đời sau). Như việc bề tôi giết vua, con giết cha, nguyên do không ở trong một buổi sớm chiều; tất dần dà có từ lâu rồi, mà người ta không biết lo toan từ sớm vậy”. (Tích thiện chí gia tất hữu dư khách, tích bất thiện chí gia tất dư ương: Thần thí kỳ quân, tử thí kỳ phụ, phi nhất triều nhất tịch chi cố, kỳ sở do lai giả tiệm hĩ. Do biện chi bất tảo biện dã)”.

Chúng ta để ý: hào 1 quẻ Càn, Dịch chỉ khuyên cứ ở ẩn, tu đức luyện tài chờ thhời; còn hào 1 quẻ Khôn này. Dịch răn phải để phònng lúc đầu, nếu không sẽ gặp họa; như vậy Dịch tin ở Dương hơn đạo Âm, trọng Dương hơn Aâm.

 

lục nhị: Trực phương đại, bất tập vô bất lợi.

Dịch: Hào 2, âm (Đức của mình) thẳng, vuông, lớn thì chẳng hải học tập mà cũng không có gì là không lợi.

Giảng: Hào này rất tồt: thể là âm, vị cũng là âm (hào chẵn), thể là đắc chính, cho nên bảo là có đức thẳng (trực) nó lại đắc trung (ở giữa nội quái) cho nên bảo là vuông vức (phương) (1) nó lại ở trong quẻ Khôn, có qui mô lớn, nên chẳng cần học tập khó khăn mà hành động nào cũng hợp đạo lí.

Văn ngôn giảng thêm: người quân tử muốn như hào 2 này mà ngay thẳng ở trong lòng thì phải có đức kính; vuông ở ngoài (khi tiếp vật) thì phải có đức nghĩa. Có hai đức kính, nghĩa đó thì sẽ không có lập (?). nguyên văn: “bất cò”, Chu Hi giảng là to lớn, tức có ý cho rằng: Kinh thì “trực”, nghĩa thì “phương”, có đủ kinh và phương thì là “đại”. Chúng tôi hiểu theo câu: Đức bất có, tất hữu lân (Người có đức thì không lẻ loi, tất có bạn cũng trọng đạo đức như mình (bạn đây là hào 5 ứng với 2) không biết có đúng không.

 

lục tam: Hàm chương khả trinh, hoặc

 

tòng vương sự, vô thành hữu chung

Dịch: Hào 3 âm: Ngậm chứa (đừng để lộ ra) đức tốt mà giữ vững được, có khi theo người trên mà làm việc nước, đừng chiếm lấy sự thành công thì sau cùng sẽ có kết quả.

Giảng: Hào 3 là âm mà ở vào địa vị dương (lẻ), như vậy là không chính, nhưng nó vốn có đức nhu thuận của quẻ Khôn, thêm được tính cương kiện của vị dương, thì lại tốt (đây là lẽ biến hoá của Dịch)

Nó đứng trên cùng nội quái, tức có thể có chức phận, cho nên bảo là có lúc theo bề trên làm vịêc nước. Nhưng nó nên nhũn, nhu thuận (đức của Khôn) chỉ trọn nghĩa vụ mà đừng chiếm lấy sự thàng công thì sau này sẽ xcó kết quả.

Văn ngôn bàn thêm: Ngậm chứa đức tốt, theo người trên làm việc mà không dám chiếm lấy sự thành công, đó là đạo của Đất, của bề tôi (địa đạo, thê đạo, thần đạo). Đó là cách cư xử người dưới đối với người trên.

(1) Tôn Châu Nhân có câu: Hạnh dục phưong, trí dục viên, nghĩa là tính nên vuông vức, giữ đúng đạo nghĩa, ngay ngắnmà trí óc nên tròn trịa, lanh động không cố chấp.

 

Lục tứ: Quát năng, vô cữu, vô dự

Dịch: Hào 4 là âm ở địa vị âm trong quẻ toàn âm, mà không đắc trung như hào 2, ví như quá nhu thuận, vô tài, không có chút cương cường nào. Đã vậy, mà ở sát hào 5, tức là có địa vị một đại thần, tài thấp mà địa vị cao, nên phải thận trọng thì mới khỏi tội, an thân, mặc dầu khcâng có danh dự gì.

Hào 4 quẻ Càn cũng ở địa vị như hào này, nhưng là dương, có tài năng, nên còn có thể bay nhảy, tiến được (hoặc duợc), khác nhau ở chỗ đó.

Văn ngôn cho hào này có cái tượng “âm cự tuyệt dương” (vì không có chút dương nào cả từ bản thế tới vị), như vậy là âm dương cách tuyệt nhau, trời đấùt không giao nhau (thiên địa bế), lúc đó hiền nhân nên ở ẩn (hiền nhân ẩn), rất thận trọng thì không bị tai hoạ.

 

Lục ngũ: Hoàng thường, nguyên cát.

Dịch: Hào 5, âm: Như cái xiêm màu vàng, lớn, tốt (rất tốt).

Giảng: hào 5 là hào chí tôn trong quẻ, đắc trung. Tuy nó không đắc chính vì là âm mà ở vị dương; nhưng ở trong quẻ Khôn, như vậy lại tốt vì có chút cương, không thuần âm, thuần nhu, như hào 4, tức có tài, nhưng vẫn là Khiêm nhu (vì là âm). Aâm còn hàm ý văn vẻ nữa. Trái với dương cương kiện là võ. Cho nên Chu Công cho là hào này rất tốt, và “tượng “ bằng cái xiêm màu vàng. Vàng là màu của đất, của trung ương (hàm ý không thái quá, không bất cập) của vàng, đồng, nên người Trung Hoa thời xưa rất quý; chỉ vua chúa mới được dùng màu vàng trong y phục. Xiêm là một bộ phận y phục phía dưới, đẹp đẽ, hàm cái nghĩa khiêm hạ, không tự tôn.

Văn ngôn bàn thêm: Người quân tử có đức trung (màu vàng) ở trong mà thông suốt đạolý, ở ngôi cao mà vẫn khiêm, tự coi mình ở thể dưới (như cái xiêm); như vậy là chất tốt đẹp bên trong mà phát ra bề ngoài, làm nên sự nghiệp lớn, tốt đẹp như vậy là cùng cực.

Như vậy dịch tuy coi âm (Khôn) không quí bằng dương (Càn) nhưng có lúc coi trọng đức khiêm nhu, mà Dịch cho là đức của người văn min. Tinh thần đó là tinh thần hiếu hòa, trọng văn hơn võ. Hào 5 quẻ Càn, Chu Công cho là đại quí (long phi tại thiên) nhưng chỉ bảo: “Lợi kiến đại nhân”; còn hào 5 quẻ khôn thì khen là “nguyên cát” hào tốt trong Kinh Dịch, là có nghĩa vậy.

 

Thượng lục: Long chiến vu dã, kì huyết huyền hoàng

Dịch: Hào trên cùng, âm: Như rồng đánh nhau ở đồng nội, đổ máu đen máu vàng.

Giảng: Hào này âm lên tới điểm cực thịnh. Am dương tuy bổ túc nhau, nhưng bản thể vẫn là ngược nhau, đố nghịch nhau. Khi âm cực thịnh, dương cũng vậy (hào 6 quẻ Càn) thì hai bên tất tranh nhau, và cả hai đều bị hại. Đạo đến đó là cùng rồi. Cũng vẫn cái nghĩa thịnh cực thì suy như hào 6 quẻ Càn.

Văn ngôn không giảng gì khác, chỉ cho biết rằng “huyền hoàng” là sắc của trời đất, âm dương.

Cao Hanh ngờ rằng hai chữ đó thời xưa dùng như hai chữ (vì đọc như nhau) và có nghĩa là chảy ròng ròng. Không rõ thuyết nào đúng, nhưng đại ý vẫn là tai hại cho cả hai bên.

 

Dụng lục: Lợi vĩnh trinh

Dịch: (nghĩa từng chữ) Dùng hào âm: phải (nên) lâu dài, chính và bền.

Giảng: hai chữ “dụng lục” ở đây cũng như hai chữ “dụng cữu” ở quẻ Càn rất tối nghĩa, và câu 7 này mỗi nhà giảng một khác. Dưới đây tôi chỉ đưa ra ba thuyết:

· Thuyết của tiên Nho: sáu hào âm biến ra sáu hào dương, tức Thuần Khôn biến thành Thuần Càn, như một người nhu nhuợc biến ra một người cương cường, cho nên bảo là: phải (nên) lâu dài, chính và bền.

· Thuyết của Cao Hanh: hỏi về việc cát hay hung lâu dài, mà được “hào” này thì lợi.

· Thuyết của Tào Thăng: Khôn thhuận theo Càn cho nên gọi là lợi; Khôn động thì mở ra, tĩnh thì đóng lại.

Up
Down

Copyright © 2007 TreToday.net